CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm động lực và tạo động lực - Khái niệm động lực lao động Có rất nhiều các nhận định khác nhau về khái niệm tạo động lực lao động: Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực có thể được hiểu là sự mong muốn, tự nguyện của NLĐ để làm tăng cường thêm sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục đích hay hiệu suất làm việc nào đó”. [2, tr18] Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương: “Động lực của NLĐ là những nhân tố nội tại bên trong con người tạo ra sự kích thích để con người thêm nỗ lực làm việc trong điều kiện được cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất làm việc cao”.
[1, tr30] Theo Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình quản trị nhân lực: “Động lực của NLĐ là những nhân tố nội tại bên trong kích thích để con người có sự nỗ lực hơn trong công việc trong điều kiện được cho phép để tạo ra năng suất, chất lượng cao. Biểu hiện của động lực là tinh thần sẵn sàng nỗ lực, làm việc một cách say mê nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp cũng như của chính bản thân người lao động”. Như vậy có thể thấy được động lực là những khả năng nội tại bên trong của mỗi NLĐ đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong việc kích thích sự phát triển hoạt động của NLĐ hướng đến việc hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ được phân phó. - Khái niệm tạo động lực 8 Luan van Tạo động lực cho NLĐ được định nghĩa là tất cả các giải pháp của NQL áp dụng vào NLĐ với mục tiêu là tạo ra động cơ cho NLĐ, chẳng hạn như: thiết lập nên những mục tiêu vừa thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của NLĐ lại vừa thoả mãn được mục đích của doanh nghiệp, tổ chức; áp dụng các giải pháp kích thích, thúc đẩy về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Khái niệm nhu cầu, động cơ, lợi ích - Khái niệm nhu cầu “Những mong muốn, nguyện vọng của cá nhân về lợi ích, yêu cầu và nguyện vọng của cá nhân con người về mặt vật chất và tinh thần được gọi là nhu cầu”. Nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi không ngừng. Nhu cầu cũng tùy thuộc vào địa vị của mỗi người trong xã hội. Nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng, lo sợ khiến con người phải tìm mọi cách để có thể đáp ứng.
Khi mong muốn của con người càng lớn, càng mạnh mẽ thì nhu cầu của họ càng cao. - Khái niệm động cơ “Động cơ lao động của NLĐ khởi nguồn từ việc mong muốn thoả mãn các nhu cầu cần thiết nhất, cơ bản nhất của NLĐ như: Nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng, …” [3, tr85] - Khái niệm lợi ích “Mức độ cá nhân thỏa mãn về các nhu cầu về tinh thần nội tại bên trong và vật chất tồn tại bên ngoài do công việc họ đang làm tạo ra gọi là lợi ích”. [3, tr72] Theo quan niệm trên thì lợi ích có thể hiểu là kết quả tốt thu được mà NLĐ nhận được bằng vật chất hay tinh thần thông qua chính bản thân họ khi họ tham gia các hoạt động sản xuất hoặc các công việc khác trong tổ chức, doanh nghiệp cũng như trong xã hội. Vai trò, mục đích của công tác tạo động lực 1.
Đối với cá nhân người lao động Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người lao động cảm thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân người lao động không có động lực lao động thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu của nó bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó nhà quản lý cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của nhân viên.
Người lao động chỉ hoạt động tích cực khi mà họ được thỏa mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân. Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ được hưởng. Khi mà người lao động cảm thấy lợi ích mà họ nhận được không tương xứng với những gì họ bỏ ra họ cảm thấy không thỏa mãn được những nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản làm việc không tập trung cao. Lợi ích là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà người lao động nhân được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới tạo ra động lực cho họ làm việc.
Động lực lao động còn giúp cho người lao động có thể tự hoàn thiện mình. Khi có được động lực trong lao động người lao động có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Đối với cơ quan, tổ chức Hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản và các “con rồng Châu Á” cho thấy phải tiến ra con đường đi riêng phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Việt Nam.
Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì phải đuổi kịp trình độ 10 Luan van khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới trong một thời gian ngắn với điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu và thiếu vốn đầu tư. Một trong những giải pháp tình thế là tăng năng suất lao động để có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn trên cơ sở trang thiết bị và vốn sẵn có, do đó có tốc độ tích luỹ vốn nhanh hơn. Vì lý do nêu trên, vấn đề kích thích lao động hiện đang là mối quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo và quản lý. Mặt khác, khi vấn đề vốn đầu tư và trang thiết bị đã được giải quyết thì tăng năng suất và kích thích lao động sáng tạo vẫn là vấn đề bức xúc cần đầu tư giải quyết thích đáng để doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung có thể phát triển nhanh và có hiệu quả.
Kích thích lao động là tạo ra sự thôi thúc bên trong của con người đến với lao động, sự thôi thúc đó được tạo ra dựa trên một tác động khách quan nào đó lên ý thức. Do đó, khi kích thích bất cứ hoạt động lao động nào, người ta phải chú ý đến các yếu tố tâm lý như mục đích công việc, nhu cầu, hứng thú, động cơ làm việc của mỗi cá nhân và hàng loạt các đặc điểm tâm lý cá nhân cũng như tập thể khác, từ đó mới có thể hình thành được biện pháp kích thích hữu hiệu. Có thể kích thích lao động bằng vật chất, bằng giao tiếp hoặc băng cách thoả mãn các nhu cầu khác của con người tạo ảnh hưởng đến hành vi, cụ thể là nó có thể định hướng, điều chỉnh hành vi của cá nhân. Tạo động lực kích thích lao động làm việc có tác dụng : - Tạo sự gắn kêt giữa lao động với tổ chức giữ được nhân viên giỏi, giảm được tỉ lệ nghỉ việc.
- Tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của các nhân viên trong doanh nghiệp. - Giảm thời gian, chi phí tuyển và đào tạo nhân viên mới. - Tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động. - Là nền tảng để tăng doanh số, cải thiện lợi nhuận.
Mục đích Nguồn lao động vô cùng quan trọng đến sự thành bại của mỗi doanh nghiệp cũng như tổ chức. 11 Luan van Bởi vậy công tác tạo động lực được trú trọng nhằm các mục đích nhất định: - Sử dụng hợp lý nguồn lao động: Người lao động khi có động lực sẽ làm việc tập trung cao độ, tăng khả năng sáng tạo, hết mình vì công việc và đem lại hiệu quả sản xuất cao cho doanh nghiệp. - Thu hút và làm cho người lao động gắn bó với lao động: Khi có động lực, người lao động cảm thấy minh được quan tâm, họ yêu nghề hơn, nhiệt tình hơn, gắn bó và làm việc hết mình cho doanh nghiệp. Một số học thuyết tiêu biểu về tạo động lực 1.
Học thuyết nhu cầu của Maslow Hệ thống phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow là một lý thuyết về tâm lý học được đề xuất bởi chính ông trong bài viết “A Theory of Human Motivation” ra đời năm 1943 trong cuốn sách Đánh giá Tâm lý học. Abraham Maslow về sau đã mở rộng hơn nữa ý tưởng bao gồm những sự theo dõi, quan sát và biểu hiện của sự tò mò bẩm sinh sẵn có trong con người. Thứ bậc nhu cầu của ông được sử dụng rộng rãi như một công cụ để nghiên cứu cách mọi người thực sự tham gia vào động lực hành vi. Để tạo ra động lực trong giai đoạn tiếp theo, mỗi giai đoạn phải được thỏa mãn cá nhân.
Hơn nữa, lý thuyết này là cơ sở chính để hiểu mối tương quan giữa nỗ lực và động cơ khi giao tiếp hành vi của con người. Mỗi cấp độ cá nhân này chứa đựng một lượng cảm xúc bên trong nhất định mà các cá nhân phải thỏa mãn để thỏa mãn thứ bậc nhu cầu của họ. Ông khẳng định chắc chắn rằng trong mọi không gian và thời gian, con người ai cũng có một hệ thống phức tạp, bao gồm 5 nhóm nhu cầu từ thấp đến cao: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn - an toàn và đầy đủ; nhu cầu xã hội; nhu cầu tôn trọng và nhu cầu thỏa mãn. Ta có thể xây dựng mô hình tháp phân cấp nhu cầu Maslow như sau: 12 Luan van Hình 1.
Sự phân cấp nhu cầu của A.Maslow Nhu cầu về sự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu về an toàn Nhu cầu về sinh lý (Nguồn: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực) Nhu cầu sinh lý (hay còn gọi là nhu cầu vật chất): Là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu mà con người đang không ngừng cố gắng để thỏa mãn và duy trì bởi sự tồn tại tự nhiên của cơ thể họ bao gồm: ăn, uống, ngủ nghỉ, mặc, duy trì nòi giống, … Đây là những nhu cầu cơ bản và lành mạnh nhất của con người.