phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc bố cục theo 4 chƣơng sau: 3 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung tạo động lực cho ngƣời lao động Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại công ty cổ phần xây dựng và phát triển thƣơng mại Hà An Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại công ty cổ phần xây dựng và phát triển thƣơng mại Hà An 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Con ngƣời là nguồn lực quý nhất, là yếu tố quyết định trong quá trình hoạt động sản xuất của cải vật chất cho xã hội. Hiểu đƣợc vấn đề này, các doanh nghiệp phải biết tạo động lực để thúc ngƣời lao động làm việc. Động lực cho ngƣời lao động luôn là nội dung đƣợc các học giả trong và ngoài nƣớc từ trƣớc tới nay đặc biệt quan tâm và dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Câu hỏi đầu tiên đặt ra là: “Tại sao các nhà quản lý cần phải thúc đẩy nhân lực làm việc?” (Herzberg, 1959). Theo Smith (1994), đó là vì sự sống còn của công ty. Amabile (1993) cho biết thêm với tuyên bố này đã khẳng định điều quan trọng là các nhà quản lý và lãnh đạo tổ chức phải hiểu và có cách tạo động lực cho nhân viên của họ bởi vì ngƣời lao động là nhân tố cần thiết, quan trọng quyết định tổ chức có đƣợc thành công hay không? Cô cũng lập luận rằng ngƣời lao động không có động lực thì sẽ không nỗ lực làm việc, họ không có hứng thú với công việc từ đó ngƣời lao động không còn gắn bó với tổ chức hay hiệu suất công việc thấp. Trong trƣờng hợp nhân viên có động lực; họ giúp các tổ chức tồn tại trong môi trƣờng làm việc thay đổi nhanh chóng (Lindner, 1998).
Lindner cũng lập luận rằng các chức năng phức tạp nhất của nhà quản lý là để động viên ngƣời lao động; để thúc đẩy nhân viên thay đổi liên tục (Bowen và Radhakrishna, 1991). Luận án tiến sĩ “Employee work motivation and discretionary work effort” của Robyn Joy Morris năm 2009 đã nêu bật lên sự tác động của động lực tới nỗ lực làm việc của ngƣời lao động. Trong đó, tác giả đặc biệt quan tâm tới việc tạo động lực và sự nỗ lực của ngƣời lao động trong khu vực công - khu vực thu hút sự quan tâm nghiên cứu ít hơn đáng kể hơn so với động lực làm việc của lao động tại khu vực tƣ nhân. Bằng việc nghiên cứu 585 ngƣời ở các lứa tuổi, giới tính khác nhau 5 z thuộc Úc, tác giả đã khái quát lên một số đặc điểm về động lực làm việc của các đối tƣợng trên nhƣ : những ngƣời trẻ tuổi thƣờng cảm thấy kích thích khi nhận đƣợc những công việc đòi hỏi thách thức cao hơn ngƣời nhiều tuổi, phụ nữa yêu thích những công việc có tính ổn định cao hơn nam giới hay vai trò của lãnh đạo trong việc tạo động lực cho ngƣời lao động nỗ lực làm việc.
Luận văn thạc sĩ “The role of motivation in Human Resource Management: Importance of motivation factors among future business persons” của tác giả Michal năm 2010 tại Aarhus University đã nghiên cứu trên 300 sinh viên ngành quản trị kinh doanh thuộc các trƣờng đại học của Đan Mạch để làm rõ vai trò, tầm quan trọng của việc tạo động lực cho những nhà kinh doanh tƣơng lai. Kết quả nghiên cứu cho thấy những ngƣời kinh doanh trong tƣơng lai đƣợc thúc đẩy bởi các yếu tố từ nhiều loại khác nhau. Do đó, phƣơng pháp hiệu quả nhất để tạo động lực cho họ không nên chỉ dựa vào động lực nội tại hay một động lực bên ngoài. Bằng cách nhận biết những yếu tố nào là quan trọng nhất đối với các công ty, ngƣời kinh doanh trong tƣơng lai có thể đáp ứng những thách thức của việc thu hút, thúc đẩy và giữ chân họ.
Tình hình nghiên cứu trong nước Ngƣời lao động là tài sản quý giá nhất của tổ chức. Để ngƣời lao động cống hiến hết sức mình vào công cuộc làm cho tổ chức ngày một phát triển thì phải có công tác tạo động lực cho ngƣời lao động. Chính vì tầm quan trọng của vấn đề tạo động lực cho ngƣời lao động nên đây cũng là đề tài mà các học giả trong nƣớc quan tâm nghiên cứu: Luận án tiến sĩ “Chính sách tạo động lực cho cán bộ, công chức cấp xã (nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An)” của tác giả Lê Đình Lý đã góp phần hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về động lực và tạo động lực cho ngƣời lao động (đối tƣợng trong đề tài là cán bộ, công chức cấp xã). Với cách tiếp cận hệ thống, luận án quan niệm chính sách tạo động lực là một hệ thống quan điểm, mục tiêu, giải pháp nhằm thúc đẩy, khuyến khích ngƣời cán bộ, công chức cấp xã tự giác, hăng say, nỗ lực làm việc thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao.
Chính 6 z sách tạo động lực của tác giả đề cập đƣợc phân chia thành hai nhóm: nhóm các chính sách thúc đẩy và nhóm các chính sách duy trì. Hai nhóm chính sách thúc đẩy và duy trì có những vai trò, ảnh hƣởng khác nhau đối với động lực làm việc của đối tƣợng ngƣời lao động trong đề tài. Các chính sách duy trì thƣờng tác động đến các yếu tố vật chất, điều kiện và môi trƣờng làm việc. Ngƣợc lại, những chính sách thúc đẩy thƣờng tác động đến mặt tinh thần, tình cảm của ngƣời lao động trong quá trình thực hiện công việc.
Để tạo động lực làm việc tích cực cho ngƣời lao động, trƣớc hết cần phải quan tâm, chú ý đến các chính sách thuộc nhóm duy trì, đảm bảo các nhu cầu cơ bản cho ngƣời lao động. Tiếp đó, cần phải chăm lo, đảm bảo tốt các chính sách thúc đẩy bằng cách đáp ứng những nhu cầu bậc cao cho ngƣời lao động, đƣa họ tới sự thành đạt và sự thoả mãn cao hơn. Vũ Thị Uyên, năm 2007, “Tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020”, -Luận án tiến sĩ kinh tế. Luận án đã phân tích thực trạng động lực và tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Hà Nội, đánh giá tình hình thực trạng về động lực làm việc, rút ra một số nguyên nhân cơ bản làm giảm động lực làm việc lao động nhƣ: cơ cấu doanh nghiệp còn cồng kềnh, cách thức làm việc quan liêu và cửa quyền còn tồn tại ở một vài bộ phận làm giảm khả năng phối hợp trong thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp; việc tuyển dụng và bố trí chƣa thực sự phù hợp với khả năng sở trƣờng và đảm bảo công bằng, giao nhiệm vụ và trách nhiệm chƣa thật sự rõ ràng, tiêu chuẩn thực hiện còn chung chung dẫn tới đánh giá thực hiện công việc chƣa đảm bảo đƣợc sự khoa học và công bằng.
Điều đặc biệt là thù lao cho ngƣời quản lý, cụ thể là tiền lƣơng chƣa thỏa mãn nhu cầu của ngƣời quản lý và chƣa mang tính cạnh tranh trên thị trƣờng, việc thực hiện thƣởng phạt chƣa đảm bảo tính nhất quán dẫn tới triệt tiêu động lực làm việc cho những ngƣời có tâm huyết với công việc. Đề tài nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty TNHH một thành viên xăng dầu Yên Bái” – Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh (2015) của tác giả Tô Thị Bích Thảo phân tích về công tác tạo động lực 7 z cho ngƣời lao động tại công ty xăng dầu Yên Bái. Bằng việc hệ thống hóa các lý thuyết tạo động lực cho ngƣời lao động tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác tạo động lực lao động, làm rõ những thành tựu và hạn chế, tìm nguyên nhân của những hạn chế, đề xuất các giải pháp mới về công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại công ty. Các giải pháp mang tính thực tiễn cao.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà quản trị trong công ty về việc xây dựng chính sách tạo động lực lao động. Bùi Thị Minh Thu và Lê Nguyễn Đoan Khôi “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất ở tổng công ty lắp máy Việt Nam (LILAMA)” Tạp chí khoa học - Trường đại học Cần Thơ số 35, năm 2014. Nghiên cứu đã phát hiện ra 7 nhân tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất của công ty Lilama đó là: văn hóa doanh nghiệp, công việc, cơ hội đào tạo và phát triển, điều kiện làm việc, lƣơng và chế độ phúc lợi, mối quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ với lãnh đạo. Trong 7 yếu tố trên thì lƣơng và chế độ phúc lợi là yếu tố mạnh nhất tác động tới động lực làm việc của ngƣời lao động.
Đề tài đã tiếp cận thêm một khía cạnh khá mới lạ là văn hóa doanh nghiệp ảnh hƣởng tới động lực làm việc của ngƣời lao động – trên thực tế chƣa có đề tài nào nghiên cứu sự ảnh hƣởng của nhân tố này tới động lực làm việc tại công ty Lilama. Kết quả thu đƣợc cho thấy yếu tố văn hóa doanh nghiệp chỉ đứng sau lƣơng và chế độ phúc lợi trong việc ảnh hƣởng tới động lực làm việc của ngƣời lao động. Điều này góp phần nhắc nhở doanh nghiệp xây dựng lên một thƣơng hiệu, văn hóa doanh nghiệp mạnh để góp phần củng cố động lực làm việc của ngƣời lao động. Khánh An “Tiền lương phải tạo động lực cho người lao động” (http://nld.vn/cong-doan/tien-luong-phai-tao-dong-luc-htm).
Tác giả đã đƣa ra những số liệu và tài liệu thứ cấp tác giả thu thập đƣợc để khẳng định tầm quan trọng của tiền lƣơng trong công tác tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động. Ngoài ra, để thúc đẩy mọi ngƣời làm việc thì mức độ hài lòng công việc còn thể hiện ở lòng tin của ngƣời lao động đối với ban lãnh đạo công ty, môi trƣờng làm việc, cơ hội thăng tiến… Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang rất quan tâm đến kết quả này, 8 z đến tầm quan trọng của yếu tố tiền lƣơng đến công tác tạo động lực từ đó định hƣớng tập trung nghiên cứu và phân tích sâu hơn để mang lại hiệu quả tốt nhất.