CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Động lực lao động a. Khái niệm động lực lao động Để có thể thực hiện được các tác động làm thay đổi hành vi của người lao động, người quản lý cần phải hiểu động lực là gì? Cái gì tạo nên động lực cho cong người trong lao động? Động lực nói một cách nôm na là sự dấn thân, sự sẵn lòng làm một công việc nào đó và khái quát hơn động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người, nhằm tăng cường mọi nỗ lực để đạt được một mục tiêu, một kết quả cụ thể nào đó. Nói tới động lực lao động là phải nói tới mục tiêu hoặc kết quả nào đó mà người lao động cần phải đạt được, tức là phải có một cái đích cụ thể nào đó mà người ta cần vươn tới. Người quản lý sẽ tạo ra sự gắng sức tự nguyện đó.
[4, Tr 178] Động lực là các quá trình thể hiện cường độ, định hướng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu.[7, Tr 244] Ba thành tố chính trong định nghĩa động lực là cường độ, định hướng và sự bền bỉ. Cường độ mô tả mức độ cố gắng của một người. Đây là thành tố mà hầu hết chúng ta đều tập trung vào khi nói về động lực. Tuy nhiên cường độ cao không chắc dẫn đến kết quả công việc mong muốn nếu những nỗ lực đó không được khai thác theo định hướng mang lại lợi ích có tổ chức.
Bởi vậy, chúng ta cần cân nhắc chất lượng cũng như cường độ nỗ lực. Những nỗ lực hướng tới và phù hợp với mục tiêu của tổ chức là những nỗ lực cần phải có. Cuối cùng, nỗ lực cần được xem xét trên phương diện bền bỉ. Yếu tố này định giá thời gian một người có thể duy trì nỗ lực.
Những cá nhân có động lực có thể đảm nhận công việc cho đến khi đạt được mục tiêu. [7, Tr 244] Từ các khái niệm trên, ta có thể rút ra được các đặc điểm của động lực là: - Động lực lao động luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể và một cá nhân cụ thể. - Động lực lao động thường xuất phát từ các nhu cầu, khi con người có nhu cầu cần thỏa mãn thì đó chính là động lực thúc đẩy con người hoạt động. 10 - Động lực lao động mang tính tự nguyện, xuất phát từ sự mong muốn cống hiến, mong muốn làm việc của người lao động.
Bản chất của con người là thích được chủ động trong mọi công việc chứ không muốn bị động. Vậy chỉ khi nào người lao động cảm thấy bản thân họ muốn hành động như vậy thì họ mới hành động có hiệu quả. Nhà quản trị cần phải có nghệ thuật để tăng cường sự tự nguyện nỗ lực của người lao động, làm cho họ tự cảm thấy họ cần phải làm việc hiệu quả. - Động lực lao động không bất biến mà luôn luôn thay đổi.
Trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì động lực lao động của người lao động là khác nhau. - Động lực lao động là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả sản xuất trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Từ những đặc điểm trên của động lực lao động ta thấy động lực lao động có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả lao động. Nếu người lao động có động lực lao động họ sẽ hoàn thành tốt công việc và ngược lại.
Mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển. Vì vậy các nhà quản lý luôn phải tìm hiểu về động lực của người lao động và tìm cách tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc. Trong tổ chức mỗi người lao động ở những vị trí khác nhau thì sẽ có nhu cầu, lợi ích và động lực khác nhau. Do đó nhà quản trị cần có cách tác động phù hợp với từ đối tượng lao động để tạo động lực cho họ.
Bản chất của động lực lao động Để làm rõ về bản chất của động lực thì chúng ta cần hiểu nhu cầu là gi? Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S. Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh.
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất, 11 hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.
Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu". Nhu yếu đang nói đến lại có thể được xem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn.
Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau. Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa. Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện. Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy được động lực lao động có những bản chất sau.
Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thai độ của họ đối với tổ chức. điều này có nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vao bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi.
Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao dộng chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của 12 người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất.vn/ Động lực và tạo động lực cho người lao động] c. Động cơ lao động “Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của họ” (trang 56 Giáo trình Tâm lý học lao động, trường ĐHKTQD). Động cơ luôn gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó.[2, Tr 56] Trong chúng ta khi bắt đầu làm việc đều phải có động cơ, việc nhận biết được động cơ hay nhu cầu cho từng cá nhân lao động hay nhóm lao động sẽ giúp các nhà quản lý lao động tạo ra được những kích thích thúc đẩy lao động làm việc.
Thực tế cho thấy có rất nhiều mục tiêu khi tham gia lao động sản xuất của người lao động nhưng tựu chung lại ta thấy nổi lên vấn đề sau. Đó là thực tế xã hội việc thỏa mãn một số nhu cầu thường liên quan đến tiền, hay còn gọi là thu nhập. Đây là mục tiêu hay động cơ chính của người lao động khi tham gia lao động và cũng là động lực chính cho người lao động. Đa phần mọi người đều không quan tâm tới bản thân đồng tiền, mà chỉ quan tâm tới nó khi đồng tiền được sử dụng như một nhu cầu thỏa mãn các nhu cầu khác.
Ngoài ra còn có động cơ để phát triển các nhu cầu của bản thân người lao động, và cao hơn là thỏa mãn các hoạt động bên ngoài, các hoạt động xã hội để khẳng định bản thân và đạt được những thành quả to lớn. Có những mục tiêu cơ bản của con người đó là mục tiêu về thu nhập, mục tiêu phát triển bản thân và mục tiêu về sự thỏa mãn hoạt động xã hội. Vậy để có thể thúc đẩy người lao động thì các nhà quản lý lao động phải bỏ công sức và bằng các biện pháp tìm cho ra được những mục tiêu để từ đó đề ra mục tiêu cho người lao động, tạo ra động lực cho người lao động thì các nhà quản lý lao động hải xác định được động cơ hay là nhận biết được nhu cầu của lao động trong từng thời điểm, giai đoạn phù hợp. Để rồi đưa ra các phương pháp thỏa mãn nhu cầu đó một cách hợp lý và đạt được mục tiêu cuối cùng là có lợi cho tổ chức.