Chương 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực đối với NLĐ trong doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng tạo động lực lao động tại công ty cổ phần dịch vụ và tư vấn CF Chương 3. Giải pháp tạo động lực lao động tại công ty cổ phần dịch vụ và tư vấn CF.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu a. Nhu cầu Nhu cầu là một trong những hiện tượng tâm lý cơ bản của con người; là những đòi hỏi, sự mong muốn, tất cả những nguyện vọng của con người về tinh thần và vật chất để duy trì, tồn tại và phát triển.
Thực tế theo trình độ khác nhau, nhận thức, môi trường sống không giống nhau, những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt thì mỗi người có những nhu cầu riêng không tương đồng. Nhu cầu được mỗi người cảm nhận là cảm giác chưa có, thiếu hụt một thứ nào đó mà con người có thể cảm nhận, nó mang yếu tố thúc đẩy hoạt động con người được bù đắp, che lấp. Nhu cầu càng bức thiết thì khả năng chi phối đối với người đó càng cao. Về mặt quản trị, nếu kiểm soát được nhu cầu của một người thì đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được một phần cá nhân người đó.
Nhu cầu của con người là vô tận và đa dạng. Nói về mặt quản lý con người trong doanh nghiệp, người quản lý chỉ nên có tư tưởng kiểm soát những nhu cầu có liên quan, tác động đến hiệu quả làm việc của cá nhân người đó. Việc người quản lý thoả mãn nhu cầu nào đó của NLĐ sẽ tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được NLĐ nếu biết nắm bắt nhu cầu, mong muốn của người đó. Đặc trưng của nhu cầu là không ổn định và luôn biến đổi.
Nhu cầu luôn biến đổi theo những quy luật riêng và dường như không bao giờ con người có thể thỏa mãn cùng một lúc. Khi thỏa mãn được một nhu cầu nhất định thì họ phát sinh ra một nhu cầu khác cao hơn. Nhu cầu có 3 loại cơ bản là nhu cầu vật chất, cảm xúc và xã hội. 7 - Nhu cầu vật chất gồm: nhu cầu bẩm sinh (thở, đói…), nhu cầu thông thường (ăn, uống, không khí, bài tiết, tình dục.
Các nhu cầu vật chất thông thường ở người là nhu cầu về thực phẩm, phương tiện sinh sống như nước, không khí và nhu cầu bài tiết, quần áo và nơi che chở để bảo vệ, giữ cơ thể ấm áp. Nhu cầu được hoạt động hoặc được kích thích cảm giác và vận động kể cả khoái cảm, tình dục, luyện tập thân thể và nghỉ ngơi. - Nhu cầu cảm xúc gồm: tình thương yêu, tán thành, kính trọng, thừa nhận. loại nhu cầu này cũng là một nhu cầu có vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực cho hành vi.
Khi cảm xúc bị hẫng hụt thì dẫn đến hậu quả gây ra các nhiễu loạn trong hành vi (nên chú ý khi ta muốn đề đạt vấn đề gì muốn được chấp nhận thì phải lựa lúc, lựa lời để tăng hiệu quả). Các nhu cầu chung về cảm xúc là: Nhu cầu về tình thương yêu của con người, sự tán thành và tôn trọng, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu về sự xứng đáng, nhu cầu được cần tới và được người khác mong muốn. - Nhu cầu xã hội gồm: giáo dục, tôn giáo, giải trí. các nhu cầu xã hội và các cách thỏa mãn các nhu cầu đó nảy sinh từ nền văn hóa hoặc bối cảnh xã hội mà con người là một thành viên.
Các nhu cầu xã hội đan xen với các nhu cầu vật chất và nhu cầu cảm xúc. Những nhu cầu xã hội chung là nhu cầu đồng nhất hóa hay nhu cầu được quy thuộc một nhóm, một lớp người nào đó như: Nhu cầu giáo dục, nhu cầu theo tôn giáo, nhu cầu giải trí, nhu cầu sở thích… Các nhu cầu xã hội cũng như các nhu cầu khác được đáp ứng trong tác động qua lại với những người gần gũi, các thành viên của cộng đồng, các nhóm xã hội cũng như gia đình. Các nhu cầu đan xen phụ thuộc lẫn nhau, quan hệ qua lại với nhau tới mức trong thực tế chúng không thể tách rời được nhau. Chúng như chất keo tuy mềm dai và luôn luôn thay đổi.
Có cái được khởi sự bằng nhu cầu được thoả mãn bằng cách cùng chia sẻ món thức ăn đã trở thành lễ nghi như là tượng trưng cho sự tôn trọng: Chẳng hạn việc đưa đồ nước uống mời khách đến nhà là biểu thị lòng mến khác đến chơi, việc mời trầu cau trong lễ cưới hay một 8 món ăn nào đó biểu thị sự kính trọng của người được mời. Một số món ăn nào đấy, một số cách nấu nướng nào đấy, một cách phục vụ nào đấy cả cách ngồi ăn, tập quán ăn uống được nhận biết cùng với nền văn hóa. Ngoài 3 nhu cầu chính là: vật chất cảm xúc và xã hội, còn có nhu cầu độc lập và nhu cầu vượt lên chính mình cũng được NLĐ thể hiện khá rõ ràng. Có thể tổng hợp thành bảng nhu cầu dưới đây: Bảng 1.1: Bảng tổng hợp nhu cầu của NLĐ (Nguồn: Tạo động lực cho NLĐ Tổ hợp công nghệ Giáo dục Topica) Nhu cầu có 3 mức độ là: Lòng mong muốn, lòng tham và sự mê muội: - Lòng mong muốn: Ở mức độ này con người còn giữ được ý thức sáng suốt, động cơ còn trong sáng, nhân cách còn trọn vẹn.
- Lòng tham: Nếu đến mức độ quá tham thì ý thức bắt đầu lệch lạc và thiếu sáng suốt cho nên con người hoạt động rất tiêu cực và mang tính ích kỷ. 9 - Mê muội: Mức độ này nhân cách dễ bị tha hóa, mất hẳn ý thức, có nhiều hoạt động thiếu sáng suốt đến mức mất hẳn tính người, hoạt động điên cuồng, rồ dại và độc ác tàn bạo. Thỏa mãn nhu cầu Thỏa mãn nhu cầu là một thuật ngữ mô tả việc đáp ứng hoặc đạt được nhu cầu của con người, có thể bao gồm các yếu tố vật chất, tinh thần hoặc xã hội và việc thỏa mãn nhu cầu là một phần quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe tinh thần và thể chất của con người. Theo nghĩa rộng hơn, thỏa mãn nhu cầu biểu hiện trạng thái hài lòng với hoàn cảnh cuộc sống của mình hoặc đạt được trạng thái tinh thần tổng thể tốt đẹp.
Động cơ Động cơ là sự định hướng, thúc đẩy và duy trì một hoạt động hay hành vi nào đó của con người. Động cơ được tạo bởi những nhu cầu chưa được thỏa mãn khi chúng ta trở nên căng thẳng. Có nghĩa là trong mỗi một thời điểm nào đó ở có thể tồn tại nhiều nhu cầu nhưng nhu cầu nào mạnh nhất sẽ đóng vai trò động cơ thúc đẩy. Lợi ích Lợi ích là sự thoả mãn nhu cầu của con người.
Mà sự thoả mãn nhu cầu này phải được nhận thức và đặt trong mối quan hệ tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội. Lợi ích là sự quan tâm của một cá nhân hay nhóm người tới sự thay đổi của một số biến số kinh tế nào đó. Ví dụ, lợi ích của NLĐ là tiền lương (sự quan tâm tới tiền lương), người kinh doanh thì quan tâm tới lợi nhuận từ hoạt động trao đổi buôn bán (quan tâm đến số tiền lãi từ nguồn vốn bỏ ra). Động lực và tạo động lực lao động a.
Động lực Động lực là thuật ngữ chỉ một quá trình từ lúc bắt nguồn, định hướng và duy trì các hành vi có mục đích giúp ta hoàn thành mục tiêu. Các yếu tố cấu thành nên động lực liên quan đến bản năng, cảm xúc, nhu cầu sinh lý, xã hội. Theo tâm lý học, động lực là những yếu tố thúc đẩy hành động để đáp ứng những mong muốn của chủ thể, giúp khơi dậy năng lượng tích cực bên trong con người. Nói một cách dễ hiểu, động lực là sức mạnh bên trong con người, là năng lượng, sự nhiệt tình, niềm đam mê, khát khao, tham vọng thúc đẩy con người hành động, tiếp tục hướng tới một mục tiêu nhất định và hoàn thành mục tiêu của mình.
Người có động lực luôn là những người mang năng lượng tích cực, nỗ lực, nhiệt huyết với công việc, sẵn sàng phấn đấu để đạt được mục đích mà bản thân hướng tới. Từ đó, năng suất và chất lượng làm việc được tăng cao. Vì vậy các nhà quản lý luôn mong muốn nguồn nhân lực trong công ty có động lực làm việc sẽ góp phần phát triển công ty mình. Động lực có 2 loại là: Động lực bên ngoài và động lực bên trong: Động lực bên ngoài: là những động lực từ bên ngoài tác động vào một cá nhân và khởi tạo của loại động lực này thường liên quan đến phần thưởng hoặc hình phạt.
Phần thưởng như tiền, quà, sự động viên nhằm kích thích tính cạnh tranh, phấn đấu của nhân viên để hoàn thành chỉ tiêu vượt mức bình thường, tăng năng suất làm việc. Hình phạt như trừ lương, kiểm điểm sẽ thúc đẩy nhân viên làm việc cẩn trọng hơn, giúp tạo môi trường làm việc nghiêm túc, kỷ luật. Động lực bên trong: những động lực xuất phát từ bên trong mỗi cá nhân, thường bắt nguồn từ sự yêu thích, niềm đam mê, thích thú khi làm việc và khát khao được cống hiến, đóng góp cho công ty nơi họ đang làm việc. Nếu động 11 lực bắt nguồn và duy trì từ sự đam mê và khát khao cống hiến thì tác giả nghĩ đây là điểm tích cực đáng được tuyên dương và chân trọng.
Nhưng nếu sự đam mê quá lớn và chuyển dần thành sự mê muội thì nó chính là sự tai hại và tác động xấu đến doanh nghiệp. Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là yếu tố lớn kích thích con người cố gắng làm việc trong môi trường cho phép tạo ra hiệu quả công việc, chất lượng, hiệu quả cao nhất. Tạo động lực lao động giúp NLĐ sẵn sàng và say mê làm việc hơn. Nhờ vậy, các doanh nghiệp mới có thể thu được lợi ích lớn nhất ở góc độ tâm lý.
Tạo động lực là tạo ra những yếu tố thúc đẩy hành động để thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có tác dụng khơi dậy tính tích cực lao động của con người. Tạo động lực làm việc từ góc độ quản trị là sự tác động, khơi dậy lòng mong muốn và tinh thần tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và tự nỗ lực nhằm đạt được những mục tiêu của cá nhân và tổ chức đề ra.