CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò của tạo động lực cho người lao động 1. Khái niệm động lực và tạo động lực 1. Khái niệm động lực: Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân.
Kreitner (1995), động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nao đó" (Trích “Giáo trình Quản trị nhân lực” - PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quân & Ths. Nguyễn Vân Điềm, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2007). “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” (Trích “Giáo trình Hành vi tổ chức” - TS Bùi Anh Tuấn,NXB Thống kê, 2003).
Động lực lao động có một số đặc điểm sau: - Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trường làm việc cụ thể, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân, không cố hữu mà luôn luôn thay đổi tùy vào từng thời điểm. Nhờ đặc điểm này mà nhà quản trị có thể can thiệp vào quá trình tạo động lực lao động. - Động lực lao động mang tính tự nguyện, có động lực lao động, NLĐ sẽ làm việc hết mình, làm việc một cách hăng say và hoàn toàn tự nguyện, dẫn đến tăng năng suất cá nhân và hiệu quả sản xuất kinh doanh trong điều kiện các nhân tố khác không đổi.
Trên thực tế, không có động lực lao động NLĐ vẫn có thể hoàn thành công việc vì họ có trình độ, tay nghề và nhiệm vụ phải hoàn thành… nhưng hiệu quả công việc không phản ánh đúng khả năng của họ. Nếu mất hoặc suy giảm động lực thì NLĐ có thể không hoàn thành hoặc hoàn thành công việc với kết quả không cao, họ có xu hướng ra khỏi tổ chức. Khái niệm tạo động lực Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao sao cho hiệu quả, góp phần giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh. Thực tế lợi ích có quan hệ rất chặt với động lực làm việc, nhưng lợi ích của cá nhân và lợi ích của tập thể lại luôn mâu thuẫn.
Để người lao động có thể tự nguyện theo các định hướng của doanh nghiệp thì cần cho họ thấy rõ lợi ích của bản thân họ chỉ đạt được khi lợi ích của doanh nghiệp đạt được tức phải hướng mục tiêu của cá nhân theo mục tiêu của tổ chức. Làm được điều đó chính là tạo ra động lực làm việc cho người lao động, và đó chính là khả năng tiềm tàng để tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp. “Tạo động lực cho người lao động là tổng hợp các biện pháp QT nhằm tạo ra các động lực vật chất (thù lao lao động) và tinh thần cho người lao động” (Trích “Giáo trình Quản Trị Kinh Doanh” - GS.TS Nguyễn Thành Độ và PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân,2007) 1. Các chỉ tiêu cơ bản đo lường động lực làm việc Các chỉ tiêu đo lường động lực làm việc của NLĐ được thể hiện trên các mặt như sau: Năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng sáng tạo, và sự cống hiến của NLĐ ….
Để đo lường động lực làm việc của NLĐ trong doanh nghiệp có thể thông qua một số tiêu chí cơ bản sau đây: (1)Sự tích cực trong công việc, hoàn thành xuất sắc mọi công việc được giao. (2) Hoàn thành công việc được giao với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. (3) Thích nghi cao với những thay đổi trong công việc, thích nghi với phương pháp mới, máy móc, thiết bị mới, môi trường làm việc mới. (4) Có khả năng sáng tạo thường xuyên cải tiến phương pháp làm việc, sáng kiến mới, cải tiến kỹ thuật trong chuyên môn được đào tạo.
Xử lý công việc mức độ phức tạp rất cao, với tinh thần, thái độ làm việc chăm chỉ, luôn xử lý các tình huống phức tạp và có tính độc lập. (5) Có kỹ năng về giao tiếp và hiểu biết về pháp luật để xử lý mọi tình huống. (6) Chấp hành tốt mọi nội quy, quy định trong lao động, quy chế về thời gian làm việc, quy chế về sử dụng trang thiết bị, bảo hộ lao động. Tuân thủ mọi quy định tại công sở nơi làm việc.
(7) Sự hài lòng và thỏa mãn của NLĐ; đây là tiêu chí quan trọng phản ánh sự thành công trong công việc sử dụng các công cụ tạo động lực của doanh nghiệp. NLĐ càng hài lòng thì họ càng gắn bó với doanh nghiệp. Vai trò của tạo động lực Đối với bản thân người lao động Con người luôn có những nhu cầu được thỏa mãn về cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Khi NLĐ cảm thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy NLĐ làm việc hăng say hơn.
Đối với cá nhân NLĐ không có động lực làm việc thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu của nó bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ làm như có một nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó nhà quản lý cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của NLĐ; Kết quả của công việc có thể được xem như một hàm số của năng lực và động lực làm việc, trong đó: Năng lực làm việc phụ thuộc vào các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện, cải thiện năng lực làm việc thường diễn ra chậm sau một quãng thời gian đủ dài. Ngược lại, động lực làm việc có thể cải thiện rất nhanh chóng, bởi các tác động của nó tới NLĐ: - Tạo động lực góp phần thoả mãn nhu cầu tinh thần của NLĐ, giúp NLĐ làm việc hăng say hơn, có ý thức trách nhiệm hơn, nâng cao hiệu quả công việc, tăng cường sự tập trung và kích thích tính sáng tạo của NLĐ; - Tạo động lực cho NLĐ sẽ phát huy tính sáng tạo của NLĐ. Tiềm năng của NLĐ vô cùng to lớn, chính NLĐ sáng tạo tất cả và làm chủ quá trình lao động, nhưng tiềm năng ấy vẫn chỉ là tiềm ẩn nếu người quản lý không làm nó trỗi dậy, trong khi đó chính là tài sản, là nguồn lực quý giá của tổ chức; - Tạo động lực còn giúp cho NLĐ trong doanh nghiệp có nỗ lực hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình; - NLĐ gắn bó hơn với doanh nghiệp, coi đó như gia đình thứ hai của họ, có ý thức trung thành với tổ chức và giúp họ hoàn thiện bản thân.
Có động lực lao động giúp NLĐ trong doanh nghiệp cố gắng, nỗ lực để đạt được mục tiêu hay mục đích của NLĐ Đối với tổ chức sử dụng lao động Tùy vào đặc điểm lao động, sản phẩm khác nhau mà mỗi tổ chức có những chính sách, biện pháp khác nhau để tạo động lực cho NLĐ. Chính sự khác nhau đó tạo nên hình ảnh khác nhau của tổ chức trên thị trường. Trước hết, tạo động làm việc cho NLĐ sẽ giúp đơn vị đạt được các mục tiêu đã đề ra, xây dựng đơn vị phát triển. Vì sự tồn tại và phát triển của đơn vị phụ thuộc rất lớn đến nỗ lực làm việc của đội ngũ NLĐ.
Tổ chức có chính sách tạo động lực làm việc tốt sẽ tạo nhiều thuận lợi trong : - Sử dụng hợp lý NNL, khai thác tối ưu khả năng của NLĐ: Khi tổ chức có chính sách tạo động lực, NLĐ sẽ có xu hướng phát huy mặt mạnh, ưu điểm của họ, giúp tổ chức bố trí hợp lý, giúp khai thác tối ưu khả năng của NLĐ; - Thu hút lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn cao: Những người lao động có tay nghề, trình độ rất chú ý đến yếu tố được ghi nhận, được đối xử công bằng và cảm thấy muốn gắn bó để cống hiến. Tạo động lực lao động là biện pháp tốt nhất để hình thành nên đội ngũ lao động giỏi có tâm huyết, đồng thời để tổ chức thu hút và gìn giữ nhân tài; - Khiến NLĐ cảm thấy hưng phấn khi làm việc, tạo kết quả tốt, năng suất lao động cao, làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả, thúc đẩy kinh tế phát triển và thực hiện tốt được mục tiêu của tổ chức. Tạo động lực lao động làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, quyết định sự phát triển của tổ chức; - Tạo động lực cho NLĐ sẽ khắc phục được các mặt tiêu cực, tạo ra sự gắn kết giữa NLĐ với đơn vị, giữ được những NLĐ giỏi, tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của NLĐ, giúp đơn vị giảm chi phí tuyển và đào tạo lao động mới. Chính vì thế mà bất cứ đơn vị nào cũng cần phải tạo động lực lao động cho NLĐ.
Tạo động lực không những kích thích tâm lý làm việc cho NLĐ mà còn giúp tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động, Những quyết định đúng đắn trong các chính sách, biện pháp nhằm tạo động lực cho NLĐ sẽ có tác động rất lớn tới hành vi của NLĐ, tới ý thức về sự đối xử công bằng, từ đó ảnh hưởng lớn tới sự thành công của tổ chức và cũng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đơn vị. Nội dung cơ bản của tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Xác định nhu cầu của người lao động Lao động là hoạt động có ý thức của con người. Không NLĐ nào khi làm việc cho tổ chức mà không vì một nhu cầu, mục đích gì.
Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú và khác nhau ở mỗi cá nhân, mỗi thời điểm.