phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng Bảng, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu của luận văn bao gồm 03 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức Chƣơng 2. Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Khánh Hòa. Một số giải pháp nâng cao động lực làm việc cho cán bộ, công chức tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Khánh Hòa.
-5- CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về động lực làm việc (work motivation) Chủ đề về tạo động lực làm việc đã được các nhà nghiên cứu xã hội học, chủ doanh nghiệp đặt nhiều mối quan tâm từ ngay sau khi bùng nổ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở phương Tây vào thế k XIX. Theo Kleinginna và Kleinginna (1981), đã có ít nhất 140 định nghĩa khác nhau về động lực làm việc.
Theo giáo trình Quản trị nh n c của Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004) thì “động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của cá nhân nhằm tăng cường nỗ lực của bản thân để đạt được mục tiêu hay kết quả nào đó”. Hay theo quan điểm của Bùi Anh Tuấn (2003) trong giáo trình Hành vi tổ hứ thì “động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tiếp tục làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Bảng hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục đích của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. Ngoài ra, một định nghĩa được khá nhiều người ủng hộ là quan điểm của Herzberg (1959) trong tác phẩm The motivation to work khi ông cho rằng “động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
Như vậy, có thể hiểu động lực làm việc như sau: - Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. - Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi -6- người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. - Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ. - Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc.
Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất. - Động lực là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo nhũng mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được. -Tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp - Lao động quản lý không chỉ thực hiện những vấn đề chuyên môn đảm nhận mà họ còn phải giải quyết rất nhiều vấn đề liên quan đến con người trong quá trình làm việc. Họ chính là cầu nối giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích của các bên liên quan đó là lợi ích của doanh nghiệp, người lao động và của toàn xã hội.
Họ không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp đúng hướng. Các quyết định quản lý đúng sẽ tạo đà cho sự phát triển của doanh nghiệp và ngược lại -7- sẽ làm cho doanh nghiệp điêu đứng và có thể đứng trên bờ vực bị phá sản. Để làm tốt công việc của bản thân đòi hỏi người quản lý phải luôn nỗ lực, hết lòng vì công việc và không ngừng nâng cao trình độ để thích ứng với sự thay đổi của môi trường tức đòi hỏi cần phải có động lực làm việc 1. Các Bảng hiện của động lực làm việc Động lực là yếu tố thuộc về tinh thần, nằm bên trong mỗi cá nhân nhưng lại được Bảng hiện ra bên ngoài thông qua thái độ, cách hành xử trong từng môi trường, hoàn cảnh làm việc cụ thể.
Trong tổ chức, để đánh giá xem người lao động có động lực làm việc hay không thì cần phải chú ý đến các Bảng hiện sau của họ, cụ thể: S say mê, hứng thú ối với ông vi : Sự say mê, hứng thú đối với công việc là kết hợp hài hòa giữa sở thích và khả năng nhằm mang lại niềm hạnh phúc, hứng khởi trong công việc, để hoàn thành các mục tiêu đề ra. Người lao động hiểu rõ công việc mình đang làm; luôn tự hào về công việc mình đang làm trong câu chuyện với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đối tác; luôn cố gắng, nỗ lực vượt qua khó khăn, tìm giải pháp giải quyết các vấn đề gặp phải trong công việc; có tinh thần làm việc hết mình, sẵn sàng chấp nhận thử thách trong công việc, có nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công việc được giao và trách nhiệm của bản thân đối với công việc. Mứ ộ hoàn thành ông vi ượ giao: Mức độ hoàn thành công việc, hay còn được gọi là hiệu quả công việc được thể hiện qua kết quả của công việc đạt được so với mục tiêu đề ra ban đầu, được thể hiện qua những tiêu chí sau: - Tiêu chí về số lượng: số lượng đầu mục công việc, thời gian lao động cần thiết để hoàn thành công việc, số lượng công việc thực hiện, số lượng ý tưởng, sáng kiến trong công việc… - Tiêu chí về chất lượng: mức độ hoàn thành công việc như thế nào (xuất sắc, -8- tốt, trung bình, kém…); tính chất của công việc thực hiện (quan trọng hay ít quan trọng; công việc khó hay dễ dàng…) Mứ ộ hài òng ối với ông vi : Khảo sát sự hài lòng của người lao động là một trong những công cụ giúp cho nhà quản lý đánh giá được phần nào mức độ thỏa mãn của nhân viên đối với công việc, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân viên. Mức độ hài lòng càng cao, người lao động càng trung thành với tổ chức, thể hiện sự yêu thích đối với công việc, gắn bó mật thiết với đồng nghiệp và phát huy tối đa sở trường, năng lực của họ trong quá trình làm việc.
Sự hài lòng của người lao động đối với công việc còn giúp mối quan hệ đồng nghiệp trong tổ chức luôn hòa hợp, đoàn kết gắn bó. Lãnh đạo quản lý và nhân viên dưới quyền luôn có sự tương tác, trao đổi trong công việc: lãnh đạo luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân viên; ngược lại nhân viên luôn phục tùng, chấp hành ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động Động lực của người lao động gắn liền với công việc và tổ chức mà họ đang làm việc. Động lực của mỗi cá nhân không tự nhiên sinh ra mà nó là kết quả tổng hợp từ sự vận động của các yếu tố nguồn lực trong chính bản thân mỗi người cũng như các yếu tố thuộc môi trường nơi họ sống và làm việc tạo ra.
Có nhiều cách tiếp cận trong việc đánh giá các yếu tố tác động đến động lực làm việc, tùy thuộc vào cách nhìn nhận vấn đề của mỗi người và trong từng hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, dù ở khía cạnh nào đi chăng nữa thì động lực làm việc của người lao động chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản như sau: -9- Các yếu tố thuộc về Các yếu tố thuộc về Các yếu tố thuộc về cá nhân tổ chức môi trường bên ngoài ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC Hình 1. 1 Các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của ngƣời lao động (1) Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động a) Mụ tiêu á nh n: Bất kỳ hoạt động nào của con người cũng nhằm đạt được một mục tiêu nhất định, trong lao động cũng vậy. Người lao động làm việc với nhiều mục tiêu khác nhau: người thì làm vì tiền lương, sự thăng tiến; người làm vì muốn có địa vị xã hội, được người khác nể trọng; lại có người làm việc chỉ vì đam mê của bản thân muốn được cống hiến cho xã hội…Trong thực tế không phải lúc nào mục tiêu của người lao động cũng cùng một chí hướng với mục tiêu mong muốn của tổ chức, nhiều lúc cái mà người lao động cho rằng có giá trị đối với họ thì lại vô nghĩa hoặc thậm chí làm hại cho tổ chức, và ngược lại.
Do đó, nhiệm vụ của nhà quản lý là cần phải hiểu được mục tiêu làm việc của người lao động để có thể xây dựng các chính sách tạo động lực làm việc phù hợp. Nếu người lao động làm việc vì lương thì nhà quản lý cần tập trung phát triển các chính sách về lương, thưởng, đáp ứng nhu cầu về vật chất cho họ; ngược lại, nếu người lao động làm việc vì mong muốn được nể trọng, hay vì đam mê thì nhà quản lý cần có những biện pháp thúc đẩy tinh thần làm việc như cho người lao động tham gia vào quá trình ra quyết định của tổ chức hoặc cho họ tự do sáng tạo trong -10- công việc.