Chương 1: Nhận diện vấn đề Chương 2: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty TDTT Hoàn Hảo Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty TDTT Hoàn Hảo 6 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 2.1 Khái niệm cạnh tranh Doanh nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế thị trường do đó chịu sự chi phối hoạt động của các quy luật cung cầu, quy luật giá trị, và quy luật cạnh tranh. Nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh chính là mọi cá nhân được tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh trên thị trường rất đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể có lợi ích đối lập nhau chẳng hạn như cạnh tranh người mua với nhau, cạnh tranh giữa người bán, giữa người bán và người mua, giữa những người sản xuất, giữa các doanh nghiệp… Cạnh tranh và sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa cùng phát triển với nhau. Cạnh tranh gắn liền với mỗi các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh hay một nền kinh tế.
Các doanh nghiệp buộc phải luôn duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình nhằm giúp doanh nghiệp đứng vững và ngày càng phát triển trên thị trường. Khái niệm cạnh tranh được rất nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa như: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong thị trường. Cạnh tranh bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất (Từ điển Bách Khoa Việt Nam, 1995). Cạnh tranh còn là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Porter, 1980). Chú trọng hơn đến tính chất cạnh tranh và phương pháp cạnh tranh, Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004, trang 117) cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà là cho khách 7 hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình. Có rất nhiều nhận định khác nhau về cạnh tranh theo quan điểm riêng của mỗi người.
Từ những định nghĩa trên, có thể rút ra quan điểm chung về cạnh tranh trong phạm vi doanh nghiệp là: Cạnh tranh là đua tranh giữa các doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại sản phẩm, trên cùng một thị trường, sử dụng các hành động và biện pháp để giành lợi thế, thoả mãn mục tiêu. Các mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến có thể là thị phần, lợi nhuận, danh tiếng thương hiệu, hiệu quả lao động hoặc an toàn,… Cạnh tranh luôn tồn tại hai mặt: tích cực và tiêu cực. Xét về mặt tích cực, cạnh tranh giúp doanh nghiệp phân bổ hợp lý các nguồn lực, hoạt động hiệu quả. Bên cạnh đó, còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, giúp tăng năng suất xã hội, sử dụng hiệu quả các yếu tố trong sản xuất để thoả mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng.
Xét về mặt tiêu cực khi doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận một cách bất chấp thì có thể sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng như ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ con người, vi phạm đạo đức, nhân cách,…khiến cho nền kinh tế đất nước bị sai lệch.2 Khái niệm về nguồn lực Nguồn lực mang một ý nghĩa rất rộng lớn, và đây cũng là yếu tố hàng đầu được đề cập khi doanh nghiệp phân tích tình hình thực tế và xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp mình. Nguồn lực là tài sản hữu hình và vô hình, là năng lực của cá nhân và tổ chức, và các yếu tố đặc trưng của vị thế thị trường, do công ty kiểm soát và là nền tảng hình thành các lợi thế cạnh tranh trong phối thức thị trường. Các nguồn lực này được tập hợp thành năm nhóm cơ bản: (1) nguồn lực vật chất (nhà máy, thiết bị, bất động sản, tài sản lưu động, công cụ tín dụng.); (2) nguồn lực phi vật chất nội bộ (hệ thống hoạch định và kiểm soát, hệ thống quản lý nhân sự, hệ thống thông tin.); (3) nguồn lực phi vật chất bên ngoài (hình ảnh công ty, nhãn hiệu sản phẩm, quy mô khách hàng, uy tín công ty với 8 nhà cung cấp.); (4) nguồn nhân lực thuộc cá nhân (kiến thức, kỹ năng nhà quản lý và nhân viên.); (5) nguồn nhân lực thuộc tập thể (văn hoá công ty, khả năng hợp tác.) (Rudofl Grunig và Richard Kuhn, 2002) Nguồn lực là những gì mà một công ty cần phải có để hoạt động. Nguồn lực là những yếu tố giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và cung cấp giá trị cho khách hàng.
Trong đó, các nguồn lực vô hình có tác dụng tích cực và hữu hiệu hơn so với các nguồn lực hữu hình, do đặc điểm của nguồn lực vô hình là khó xác định, vì thế các đối thủ cạnh tranh khó có thể tìm hiểu, bắt chước hay thay thế (Lê Thế Giới, 2011) Tuy nhiên, nguồn lực tự bản thân nó không tạo ra lợi thế cạnh tranh. Những nguồn lực có đặc điểm sau: hiếm có, có thể tạo ra giá trị khách hàng, có thể bắt chước nhưng không hoàn toàn, có thể thay thế nhưng không hoàn toàn thì mới có giá trị và góp phần thiết yếu vào lợi thế cạnh tranh bền vững (Barney, 1991) Tóm lại, nguồn lực là những yếu tố hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp có thể kiểm soát, giúp duy trì hoạt động và nâng cao giá trị khách hàng; đồng thời những yếu tố nguồn lực độc đáo chính là chìa khoá để tạo ra lợi thế cạnh tranh và là nền tảng để doanh nghiệp xây dựng mục tiêu, các chiến lược khả thi nhằm đạt được mục đích kinh doanh của mình.3 Năng lực cạnh tranh Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cạnh tranh, do đó mà đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức về năng lực cạnh tranh. Ở cấp độ vi mô, những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là những doanh nghiệp đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hoá và dịch vụ và/hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tuơng đối cho phép họ tăng được lợi nhuận và/hoặc thị phần (Dunford, 2001) Đây là định nghĩa thể hiện được tương tối về khái niệm năng lực cạnh tranh, tập trung vào mục tiêu mà các doanh nghiệp mong muốn đạt được. Tuy nhiên định nghĩa 9 trên chỉ thể hiện quan điểm một chiều, không phản ánh được sự tác động về khoa học công nghệ, những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.
Một định nghĩa khác của năng lực cạnh tranh được nhiều người công nhận và sử dụng, thể hiện toàn diện và đầy đủ nhất ý nghĩa của năng lực cạnh tranh chính là khái niệm của Michael Porter (1980). Theo đó, ông cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, hoặc sản phẩm có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận. Khái niệm này thể hiện một cách đầy đủ mục tiêu của năng lực cạnh tranh, được cho là hoàn toàn phù hợp để áp dụng vào thực tiễn.4 Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh xuất phát từ việc công ty nào có thể tạo ra được giá trị vượt trội nhằm mang đến lợi nhuận cao hơn, trong đó cách thức để tạo ra giá trị này có thể là giảm chi phí kinh doanh hoặc tạo sự khác biệt đến từ sản phẩm, vì thế mà được khách hàng đánh giá cao và sẵn sàng trả một mức phí cao hơn để sở hữu chúng. Có thể thấy Chi phí thấp và Khác biệt hoá là hai chiến lược căn bản để doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh trong ngành (Porter, 1985).5 Các chiến lược cạnh tranh Để phát huy tốt những yếu tố, năng lực của lợi thế cạnh tranh vốn có, doanh nghiệp cần nắm vững các chiến lược cạnh tranh nhằm phát triển công ty bền vững, hiệu quả trên thị trường.
Michael Porter (1985) đã chỉ ra 3 chiến lược cạnh tranh: - Chiến lược dẫn đầu về chi phí (cost leadership) - Chiến lược khác biệt hoá (differentiation) - Chiến lược tập trung (focus) 10 Hình 2. 1 Các Chiến lược cạnh tranh cơ bản (Nguồn: Porter M.E, 1985, Lợi thế cạnh tranh) 2.1 Chiến lược chi phí thấp nhất Mục tiêu của công ty theo đuổi chiến lược này là vượt trội đối thủ cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm, dịch vụ với chi phí thấp nhất. Vì vậy, công ty không tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm mà dừng lại ở mức thấp, chấp nhận được ở mức chi phí thấp. Thuận lợi của chiến lược này là (1) công ty ít bị ảnh hưởng hơn so với các đối thủ cạnh tranh khi giá cả nguyên vật liệu tăng hoặc sản phẩm giảm giá, (2) khả năng đàm phán với người cung cấp được tăng cường do công ty thường có nhu cầu cao về nguyên vật liệu để đáp ứng quy mô sản xuất lớn, (3) nếu xuất hiện sản phẩm thay thế, công ty có thể giảm giá sản phẩm để cạnh tranh và giữ nguyên thị phần, (4) ưu thế về chi phí chính là rào cản ngăn không cho các công ty khác xâm nhập thị trường.
Tuy nhiên, chiến lược này ngăn cản công ty tìm ra phương pháp sản xuất với chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, dẫn đến bị mất ưu thế cạnh tranh của chính mình. Mặt khác khả năng đối thủ 11 cạnh tranh bắt chước dễ dàng phương pháp sản xuất của công ty. Và cuối cùng do mục tiêu chi phí thấp, công ty không đáp ứng được sự thay đổi thị hiếu của khách hàng.2 Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm Chiến lược này đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra các sản phẩm được xem là duy nhất, độc đáo đối với khách hàng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng cách thức mà đối thủ cạnh tranh không thể. Chính khả năng này cho phép công ty định giá "vượt trội" cho sản phẩm, tăng doanh thu và đạt tỷ suất lợi nhuận trên trung bình.
Công ty sẽ luôn cố gắng tìm cách đa dạng, khác biệt hóa sản phẩm, thường sẽ rất tốn kém, đòi hỏi chi phí lớn.