Chương 1: Cơ sở l luận về việc tạo động lực làm việc cho người lao 7 động trong cơ quan nhà nước Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Cục Quản l thị trường tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện nhằm tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức, người lao động tại Cục Quản l thị trường tỉnh Quảng Ngãi. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CƠ QUAN NHÀ NƢỚC 1. TỔNG QUAN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÔNG CHỨC, NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm công chức, ngƣời lao động a.
Khái niệm công chức: Theo Luật Cán bộ, công chức 2008: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Trong thực tế, khái niệm công chức luôn gắn liền với thuật ngữ “công vụ” và “cơ quan nhà nước”. Nói đến công chức là nói đến những người có chức danh, chức vụ, hưởng lương từ ngân sách nhà nước để thực hiện các hoạt động công vụ, vốn là “hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do cán bộ, công chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực thi các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội”. Cũng chính nhiệm vụ đặc biệt này đã tạo nên sự khác biệt tất yếu của các hoạt động công vụ so với hoạt động của bất cứ tổ chức ngoài nhà nước nào khác.
Lấy mục tiêu “phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội”, các hoạt động công vụ đòi hỏi một đội ngũ công chức tận tâm, có trình độ hiểu biết, đạo đức công vụ và các kỹ năng cần thiết để thực thi cho được “chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Khái niệm người lao động Theo Bộ luật Lao động 2012, Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương 9 và chịu sự quản l , điều hành của người s dụng lao động. Nhu cầu Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm l của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh l , mỗi người có những nhu cầu khác nhau.” Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được; Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động.
Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản l , kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm l nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và s dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội.
Nhu cầu của con người thường đa dạng và phong phú. Có thể phân chia nhu cầu thành hai loại: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là nhu cầu tổng hợp về các yếu tố vật chất cần thiết để con người tồn tại và phát triển trong một điều kiện môi trường nhất định. Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu vật chất của con người được tăng lên cả về số lượng và chất lượng.
Nhu cầu tinh thần là những yếu tố làm thỏa mãn về mặt tâm l , tạo những điều kiện để con người phát triển về mặt trí lực, tạo ra tâm l thoải mái trong quá trình lao động. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp thiết thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản l , nắm bắt được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, 10 nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu).
Nhu cầu của một cá nhân đa dạng và vô tận, tuy nhiên người quản l chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản l để đạt được mục tiêu của tổ chức. Động cơ Từ điển Wiktionary định nghĩa động cơ “là những gì thôi thúc con người có những ứng x nhất định một cách vô thức hay hữu và thường gắn liền với những nhu cầu” “Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định.” “Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động.
Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau.” “Động cơ rất trừu tượng và khó xác định: Động cơ thường được che giấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm l , quan điểm xã hội. Hơn nữa, động cơ luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đẩy làm việc để muốn giàu có và muốn thể hiện… Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy NLĐ làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể, môi trường cụ thể, và đối với từng cá nhân NLĐ” 11 1.
Động lực làm việc (động lực lao động) “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của người lao động”. Định nghĩa chung nhất "động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức". Theo Bùi Anh Tuấn (2015): “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân NLĐ”. Như vậy, động cơ làm việc không xuất phát từ sự ép buộc nào, không phát sinh từ mệnh lệnh hành chính, không biểu hiện qua lời nói mà thông qua hành động cụ thể mới xuất hiện, phát ra từ nội tâm của nhân viên. Do có nguồn gốc bên trong nên động lực lao động rất trừu tượng và khó xác định, người quản l không thể đo lường trực tiếp mà phải đánh giá thông qua những hành vi thể hiện ra bên ngoài của người lao động. Bản chất của động lực lao động là những gì kích thích con người hành động để đạt được mục tiêu nào đó.
Mục tiêu của con người đặt ra một cách có thức được phản ảnh bởi động cơ của NLĐ và quyết định hành động của họ, còn động lực lao động là biểu hiện của sự thích thú, hưng phấn, thôi thúc để họ hăng say làm việc. Người quản l phải hiểu và phân tích động cơ, động lực của NLĐ để đưa ra các chính sách hợp l thúc đẩy NLĐ nhằm nâng cao hiệu suất làm việc, đạt được mục tiêu tổ chức và thỏa mãn nhu cầu của họ. Nhà quản l cần biết về việc động viên nhân viên đó là tạo ra các điều kiện, môi trường làm việc thích hợp để khích lệ sự xuất hiện động lực mạnh mẻ bên 12 trong bản thân NLĐ. Động lực là yếu tố bên trong nhưng lại được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các dấu hiệu hành vi và thái độ, trong những hoàn cảnh và môi trường làm việc cụ thể.
Thông qua nắm bắt được các biểu hiện động lực làm việc của người lao động, các nhà quản l sẽ đánh giá được động lực làm việc của họ để có sự tác động các chính sách quản l nhân sự phù hợp nhằm tạo động lực cho họ, góp phần tăng năng suất lao động. Động lực lao động có một số đặc điểm đáng chú như sau: “Động lực lao động luôn phải gắn liền với một công việc, một tổ chức hay một môi trường làm việc cụ thể”; “Động lực lao động không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân; Khi các yếu tố khác không đổi, thông thường động lực lao động sẽ dẫn tới năng suất lao động và hiệu quả làm việc cao hơn”. Nhưng điều này không có nghĩa là tất yếu bởi sự thực hiện công việc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác (khả năng NLĐ, phương tiện, nguồn lực…); NLĐ khi không có, bị mất đi hoặc bị suy giảm động lực lao động thì vẫn có thể hoàn thành công việc và không mất khả năng thực hiện công việc, tuy nhiên, họ lại có xu hướng rời bỏ tổ chức. Các loại động lực lao động Thông thường có hai loại động lực là động lực bên trong và động lực bên ngoài Động lực bên ngoài (Extrinsic motivation): là những yếu tố bên ngoài khiến nhân viên hành động hướng tới hoàn thành nhiệm vụ hoặc mục tiêu công việc.
Chúng thường là hình phạt hoặc phần thưởng. Một hình phạt sẽ thúc đẩy nhân viên hành động để tránh hình phạt, trong khi phần thưởng sẽ thúc đẩy hành động để được nhận phần thưởng. Động lực bên trong (Intrinsic motivation): động lực xuất phát từ sự hài lòng cá nhân về chính công việc đang làm. Là sự thỏa mãn khi cá nhân 13 thực hiện tốt một công việc hay đạt mục tiêu đề ra, khi cá nhân thấy rằng công việc của mình có đóng góp lớn cho doanh nghiệp.