Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây bông Cây bông (Gossypium sp.) thuộc chi Bông (Gossypium), họ Cẩm Quỳ (Malvaceae). Chi Bông có 45-50 loài, trong đó, 40-45 loài nhị bội (2n = 2x = 26) và 5 loài tứ bội (2n = 4x = 52).) thuộc nhóm tứ bội, còn được gọi là bông Mexico, là loài bông được trồng rộng rãi nhất trên thế giới, chiếm khoảng 90% sản lượng bông toàn cầu (USDA, 2019). Bông Luồi có nguồn gốc từ Mexico, Tây Ấn, Bắc Nam Mỹ, Trung Mỹ và có thể cả vùng nhiệt đới Florida (Wendel, 1992). bao gồm một số giống với độ dài xơ khác nhau và có có khả năng chịu thâm canh.
Bên cạnh lấy sợi, bông Luồi và bông Hải Đảo (G.) là hai loài chính được sử dụng để sản xuất dầu hạt bông (USDA, 2019).2 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ bông trên thế giới Theo ICAC (2018), trong niên vụ 2018/2019, sản lượng bông toàn cầu đạt 26,3 triệu tấn bông xơ. Các nước sản xuất bông chính, chiếm 90% sản lượng toàn cầu là Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Braxin, Pakistan, Tây Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc và Uzbekistan. Đáng chú ý, trong niên vụ này có sự gia tăng sản lượng của Braxin và Tây Phi (ICAC, 2018). Hai nhà sản xuất hàng đầu Trung Quốc và Ấn Độ chiếm khoảng 50% sản lượng và năm nhà sản xuất hàng đầu chiếm hơn 75% sản lượng bông toàn cầu.
Hiện tại, Ấn Độ là nhà sản xuất bông lớn nhất thế giới, việc sử dụng hạt giống biến đổi gen và sự dồi dào của lao động giá rẻ đã làm giảm chi phí sản xuất bông và tăng sản lượng nội địa, kết hợp với việc giảm sản lượng bông của Trung Quốc, cho phép Ấn Độ dẫn đầu sản xuất. Hoa Kỳ là nhà sản xuất bông lớn thứ ba trên toàn cầu. Sản lượng bông của Hoa Kỳ giảm đáng kể từ năm 2005 đến 2008 do thời tiết khắc nghiệt và bị cạnh tranh 5 bởi các loại cây trồng khác, đặc biệt là ngô và đậu nành. Tuy nhiên, kể từ năm 2015, sản lượng bông của Hoa Kỳ đã tăng trở lại, do giá bông thuận lợi so với các loại cây trồng khác và nhu cầu bông tăng cao trên toàn cầu đã khuyến khích nông dân tăng sản lượng (USDA, 2019).
Trước năm 2014, Trung Quốc là nhà nhập khẩu bông nhiều nhất thế giới. Dệt may là ngành sản xuất chủ lực trong phát triển kinh tế kể từ khi nước này gia nhập WTO năm 2001. Từ năm 2010, chính phủ Trung Quốc xây dựng các kho dự trữ bông chiến lược để bảo vệ ngành dệt may của họ. Trung Quốc loại bỏ dự trữ bông vào năm 2014, nên mức nhập khẩu hiện nay tương đương với các nước khác (USDA, 2019).
Tính đến 2018, Bangladesh dẫn đầu thế giới về nhập khẩu bông, tiếp theo là Việt Nam và Trung Quốc (FAO, 2018). Hoa Kỳ là nước dẫn đầu về xuất khẩu toàn cầu, chiếm khoảng 38% thị trường xuất khẩu sợi bông thô. Năm nhà xuất khẩu hàng đầu khác cộng lại vẫn thấp hơn so với Hoa Kỳ trên thị trường toàn cầu. Mặc dù vậy, mức xuất khẩu bông đã thay đổi theo thời gian.
Năm 2011, do giá cả tăng cao, khuyến khích sản xuất trong nước làm cho mức xuất khẩu của Ấn Độ gần như vượt qua Hoa Kỳ. Mặt khác, nhu cầu từ Trung Quốc cũng thúc đẩy Ấn Độ xuất khẩu trong năm 2013. Trong niên vụ 2016/17, mức xuất khẩu bông của Hoa Kỳ đã tăng trở lại. Sự thay đổi này được tạo ra bởi việc sử dụng giống chất lượng cao, cùng với việc giảm sản lượng từ các nhà sản xuất khác mà chủ yếu là Ấn Độ và Brazil.
Mức xuất khẩu của Hoa Kỳ mạnh bền vững kể từ đó (USDA, 2019). Tóm lại: Trên toàn cầu, sản xuất và tiêu thụ bông có thể thay đổi, nhưng xu hướng tăng trưởng dài hạn vẫn tiếp tục. Các yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng cung cầu về bông bao gồm việc tạo giống mới bằng công nghệ sinh học, tăng cơ giới hóa trang trại, tăng trưởng dân số và tăng trưởng kinh tế.3 Cây trồng biến đổi gen chống chịu thuốc trừ cỏ 1.1 Cây trồng biến đổi gen chống chịu thuốc trừ cỏ Chống chịu thuốc trừ cỏ là tính trạng chiếm ưu thế đối với cây trồng biến đổi gen hiện nay và sẽ còn như vậy trong tương lai. Cây trồng biến đổi gen chống chịu 6 thuốc trừ cỏ phổ rộng Glyphosate và Glufosinate lần đầu tiên được trồng thương mại vào năm 1996 (James, 2019) và cây trồng biến đổi gen chống chịu thuốc trừ cỏ khác đang được phát triển (Green, 2014), hoặc đã có trên thị trường, với nhiều tính trạng chống chịu thuốc ngày càng tăng và nhiều tính trạng được kết hợp trong một loại cây trồng (USDA, 2015).
Tính đến năm 2008, gần 90% loại cây trồng biến đổi gen được trồng trên toàn thế giới là chống chịu Glyphosate (Duke, 2014). Trong khi nhiều loài cây trồng biến đổi gen đã được thử nghiệm trên đồng ruộng, chỉ có bốn loài được trồng rộng rãi từ cuối những năm 1990 là đậu nành, ngô, bông và cải dầu (Brookes và Barfoot, 2015). Năm 2013, trong số 175,2 triệu ha diện tích cây trồng BĐG toàn cầu, khoảng 57% (99,4 triệu ha) được trồng bằng các giống HR và 27% (47 triệu ha) với các cây có đặc tính kép HR/IR (vừa chống chịu thuốc cỏ vừa chống chịu sâu) (James, 2013). Do đó, 84% diện tích là cây trồng BĐG mang gen HR (146,4 triệu ha).
Đậu tương HR là cây trồng biến đổi gen và được trồng chủ yếu ở Bắc và Nam Mỹ, chiếm khoảng 80% diện tích đậu tương toàn cầu và 46% tổng diện tích cây trồng BĐG (Brookes và Barfoot, 2015). Đối với ngô BĐG và bông BĐG, các đặc điểm HR thường được kết hợp với IR. Ở Mỹ, các loại cây trồng HR như cỏ linh lăng, củ cải đường, cỏ thảm (bentgrass) và lúa đã được điều chỉnh quy định khi thương mại hóa hoặc đang chờ xử lý để bãi bỏ quy định (USDA, 2015). Tính trạng biến đổi đơn gen chống chịu thuốc trừ cỏ trên cây đậu nành, cải dầu, ngô, cỏ linh lăng và bông hiện vẫn giữ ngôi vị thống trị với 47% diện tích canh tác toàn cầu (James, 2018).
Ba nước là Mỹ, Brazil và Argentina trồng nhiều cây trồng BĐG nhất, chiếm 77% tổng diện tích cây BĐG toàn cầu tính theo quốc gia và chiếm 94% diện tích cho 3 loại cây trồng chính là đậu nành, ngô và bông. Phân chia theo tính trạng thì 85% là chống chịu thuốc trừ cỏ, bao gồm đơn tính trạng và đa tính trạng kết hợp chống chịu thuốc trừ cỏ và kháng sâu (Bonny, 2016). Do tác động của cỏ dại chống chịu thuốc trừ cỏ, các nhà khoa học nghiên cứu về cỏ dại và các công ty hạt giống BĐG đã khuyến khích nông dân áp dụng các biện 7 pháp quản lý cỏ dại tốt hơn. Ngoài ra, giải pháp mà các công ty đưa ra là chuyển hướng sang cây trồng BĐG có tính chống chịu khác với Glyphosate (hoặc một loại thuốc trừ cỏ khác) được kết hợp với nhau với một hoặc hai tính trạng HR như khả năng chịu 2,4-D, Dicamba, Glufosinate,.
Mục đích là để đối phó với vấn đề cỏ dại chống chịu Glyphosate trong khi tiếp tục sử dụng cây trồng HR (Green và Owen, 2011). Khi cỏ dại chống chịu Glyphosate đã bắt đầu phát triển và lan rộng, hướng ứng dụng Công nghệ sinh học được theo đuổi. Vì vậy, các công ty CNSH nông nghiệp vẫn đang tìm cách bổ sung các đặc điểm chống chịu thuốc trừ cỏ mới và kết hợp chúng lại, thay vì giảm dần mối quan hệ với các loại tính trạng này. Các đặc điểm HR mới xuất hiện sinh lợi hơn hiện tại và chắc chắn hơn cho tương lai gần.
Các loại tính trạng khác liên quan đến chất lượng thực phẩm, khả năng chịu hạn, năng lượng sinh học, hóa học và đa chất, đang được phát triển và được cho là làn sóng tiếp theo của công nghệ sinh học nông nghiệp (Bonny, 2016). Các công ty cũng đang đầu tư vào các ứng dụng công nghệ sinh học khác như thuốc trừ sâu sinh học, cũng như các công cụ để nông dân thu thập và phân tích dữ liệu để canh tác chính xác. Do đó, cây trồng HR có thể vẫn được sử dụng một thời gian khá dài nữa, trong khi các sản phẩm hoặc dịch vụ tiếp theo đang được phát triển. Ý nghĩa của bông chuyển gen chống chịu thuốc trừ cỏ Theo ISAAA lợi thế của trồng cây bông chống chịu thuốc trừ cỏ nói riêng và cây trồng chống chịu thuốc trừ cỏ khác nói chung là: (i) kiểm soát cỏ dại rất tốt, do đó, năng suất cây trồng cao hơn; (ii) linh hoạt kiểm soát cỏ dại ở giai đoạn cuối vụ; (iii) giảm sử dụng nhiên liệu, vì ít phải phun thuốc trừ cỏ; (iv) giảm nén chặt đất, vì ít phải đi lại trên mặt đất để phun thuốc; (v) sử dụng các hoá chất có độc tính thấp, nên tồn dư độc trong đất không đáng kể; và (vi) có thể sử dụng các hệ thống canh tác không làm đất hoặc làm đất tối thiểu, đem lại lợi ích cho kết cấu đất và các vi sinh vật đất (James, 2017).
Một nghiên cứu được tiến hành bởi Hiệp hội Đậu nành Mỹ (ASA) về số lần làm đất ở các nông trại đậu nành cho thấy rằng, có số lượng đáng kể nông dân chấp nhận biện pháp kỹ thuật “không làm đất” hoặc “làm đất tối thiểu” sau khi trồng giống đậu 8 nành chịu thuốc trừ cỏ. Phương pháp quản lý cỏ dại đơn giản này đã tiết kiệm được trên 234 triệu gallon nhiên liệu và khoảng 247 triệu tấn lớp đất mặt không bị xáo trộn (James, 2017).2 Cây bông biến đổi gen chống chịu thuốc trừ cỏ Cây bông chuyển gen được trồng thương mại lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1996, chủ yếu ở Mỹ, với diện tích chỉ khoảng 0,8 triệu ha (James, 2019). Từ đó đến nay, diện tích trồng bông chuyển gen của thế giới liên tục tăng nhanh. Thống kê trong năm 2015, diện tích trồng bông chuyển gen toàn cầu khoảng 25,1 triệu ha chiếm 68% tổng diện tích.
Các nước đang trồng nhiều bông chuyển gen là Ấn Độ (11,6 triệu ha), Trung Quốc (3,9 triệu ha), Mỹ (3,7 triệu ha) và Pakistan (2,9 triệu ha) (James, 2017). Theo tính trạng, có 2 loại bông chuyển gen là bông kháng sâu (insect resistant cotton) và bông chống chịu thuốc trừ cỏ (herbicide resistant cotton); theo sự hiện diện của gen chuyển, có 3 loại bông chuyển gen là bông kháng sâu, bông chống chịu thuốc trừ cỏ và bông vừa kháng sâu vừa chống chịu thuốc trừ cỏ (tính kháng kết hợp). Hiện trên thế giới có 27 giống bông chuyển gen (Event ID) được đăng ký bản quyền sử dụng (CERA, 2015), thuộc 3 nhóm.