Nghiên cứu về mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và ảo giác tiền tệ tại Việt Nam - Nguyễn ...

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và ảo giác tiền tệ tại việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

2016

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA ẢO GIÁC TIỀN TỆ

1.1. Môi trường

1.1.1. Sở thích

1.1.2. Kĩ thuật tạo thu nhập

1.1.3. Chính sách tiền tệ

1.2. Các nghiên cứu liên quan

1.3. Quyết định tiêu dùng/tiết kiệm

1.4. Định lượng tác động của ảo giác tiền tệ

1.5. Tổn thất phúc lợi

1.5.1. Triệt tiêu phí tổn của ảo giác tiền tệ

1.6. Kết luận

2. CHƯƠNG 2: TƯƠNG QUAN GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ ẢO GIÁC TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM

2.1. Thu thập và xử lý dữ liệu

2.2. Kết quả nghiên cứu

2.2.1. Phân tích kết quả

2.2.1.1. Thay đổi của tổn thất phúc lợi
2.2.1.2. Thay đổi của tỉ lệ phần trăm tăng trưởng
2.2.1.3. Sự tham gia của tham số tránh rủi ro γ

2.2.2. Triệt tiêu tác động của ảo giác tiền tệ

2.2.2.1. Tóm tắt kết quả chính
2.2.2.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tài liệu

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------------------------- Nguyễn Bình Thành TƯƠNG QUAN GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ ẢO GIÁC TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số : 60.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Hữu Huy Nhựt TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục lục Mục lục i Danh mục các bảng, biểu iii Danh mục các hình vẽ, đồ thị iv 1 Tăng trưởng kinh tế dưới ảnh hưởng của ảo giác tiền tệ 1 1.2Các nghiên cứu liên quan 5 1.1 Môi trường .1 Sở thích .2 Kĩ thuật tạo thu nhập .3 Chính sách tiền tệ .2 Quyết định tiêu dùng/tiết kiệm .4Định lượng tác động của ảo giác tiền tệ 20 1.1 Tổn thất phúc lợi .2 Triệt tiêu phí tổn của ảo giác tiền tệ .5Kết luận 31 2 Tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và ảo giác tiền tệ tại Việt Nam 45 2.1Thu thập và xử lý dữ liệu 45 2.2Kết quả nghiên cứu 50 2.1 Phân tích kết quả . 50 i TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Thay đổi của tổn thất phúc lợi .2 Thay đổi của tỉ lệ phần trăm tăng trưởng .3 Sự tham gia của tham số tránh rủi ro γ .2 Triệt tiêu tác động của ảo giác tiền tệ .1 Tóm tắt kết quả chính .2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp . 65 Tài liệu 67 Bảng biến số 71 ii TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Danh sách bảng 2.1 GDP thực bình quân đầu người của Việt Nam từ 1984 - 2014 46 2.2 Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam từ 1996 - 2015 .3 Bộ tham số cơ bản cho trường hợp Việt Nam . 49 iii TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Danh sách hình vẽ 1.1 Tổn thất phúc lợi và hiệu ứng tăng trưởng của ảo giác tiền tệ. Chúng tôi đặt các tham số γ = 2, A = 0.2 Hiệu ứng của ảo giác tiền tệ ở các tỉ lệ lạm phát kì vọng khác nhau. Chúng tôi đặt các tham số γ = 2, A = 0.3 Hiệu ứng của ảo giác tiền tệ tại các độ tránh rủi ro khác nhau. Chúng tôi đặt các tham số A = 0.4 Lãi suất danh nghĩa tối thiểu hóa tổn thất và tỉ lệ lạm phát kì vọng. Chúng tôi đặt các tham số γ = 2, A = 0.5 Tác động của tham số tránh rủi ro lên lãi suất danh nghĩa tối thiểu hóa tổn thất và tỉ lệ lạm phát kì vọng. Chúng tôi đặt các tham số A = 0.6 Chương trình tính tổn thất phúc lợi và vẽ đồ thị .7 Chương trình kiểm chứng lại trường hợp Hoa Kỳ .8 Đồ thị kiểm chứng lại trường hợp Hoa Kỳ .9 Chương trình tính tổn thất phúc lợi trường hợp Việt Nam .10 Đồ thị tổn thất phúc lợi - trường hợp Việt Nam .11 Đồ thị tổn thất phúc lợi - trường hợp Việt Nam (đã điều chỉnh) 55 2.12 Tác động lên tăng trưởng kinh tế của ảo giác tiền tệ - trường hợp Việt Nam .13 Chương trình tính sự phụ thuộc của biến số γ .14 Đồ thị biểu diễn phụ thuộc của γ lên tăng trưởng kinh tế .15 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của γ lên tổn thất phúc lợi .16 Chương trình tính giải pháp triệt tiêu tác động ảo giác tiền tệ 62 2.17 Phần trăm lãi suất danh nghĩa được điều chỉnh (theo γ) .18 Lạm phát kì vọng được điều chỉnh (theo γ) . 64 iv TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 1 Tăng trưởng kinh tế dưới ảnh hưởng của ảo giác tiền tệ 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tăng trưởng kinh tế dưới ảnh hưởng của ảo giác tiền tệ Jianjun Miao∗ Danyang Xie† Ngày 24 tháng 11 năm 2016 Tóm tắt Các bằng chứng cả lí thuyết và thực nghiệm đều chỉ ra ảo giác tiền tệ là dai dẳng và phổ biến. Bài báo này đưa khái niệm ảo giác tiền tệ vào một mô hình tiền tệ ngẫu nhiên với thời gian liên tục có tăng trưởng nội sinh. Chúng tôi mô hình hóa hành vi của một đối tượng bị ảo giác tiền tệ bằng giả định rằng anh ta tối đa hóa tiện ích một cách không tiêu chuẩn do phát sinh từ cả giá trị thực và giá trị danh nghĩa. Ảo giác tiền tệ ảnh hưởng đến nhận thức của đối tượng về tăng trưởng và khả năng mạo hiểm đối với tài sản thực, vì vậy làm sai lệch quyết định tiêu dùng/tiết kiệm của anh ta. Nó ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn thông qua cơ chế này. Chúng tôi cho thấy rằng tổn thất phúc lợi của ảo giác tiền tệ là không đáng kể, trong khi ảnh hưởng của nó đối với tăng trưởng dài hạn thì đáng lưu tâm thậm chí ngay khi độ ảo giác tiền tệ ở mức thấp. ∗ Liên hệ tác giả tại: Khoa kinh tế, đại học Boston, 270 Bay State, Boston, MA 00215, Hoa Kỳ, CEMA, Trung tâm đại học tài chính và kinh tế và AFR, đại học Triết Giang, Trung Quốc Tel: +1 617 353 6675, email: miaoj@bu. Miao), † Khoa kinh tế, đại học khoa học và kĩ thuật Hongkong, Clear Water Bay, Kowloon, Hong Kong, Tel.: +852 2358 7615, email: dxie@ust.hk 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Giới thiệu Thuật ngữ ảo giác tiền tệ mô tả cho hiện tượng con người nhầm lẫn giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực. Khái niệm này đã được đặt ra bởi Irving Fisher trong cả cuốn sách của ông nói về chủ đề này (Fisher, 1928). Sự hiện diện của ảo giác tiền tệ thường làm xuất hiện tính bất quân bình trong ngắn hạn của tiền tệ đối với các kinh tế gia trường phái Keynesian và một số nhà lí thuyết định lượng như Fisher1 . Tuy nhiên, ảo giác tiền tệ thường được xem như phi lí trí và gây thiệt hại kinh tế cho người đưa ra quyết định, vì vậy các nhà kinh tế đã không sử dụng ảo giác tiền tệ trong phân tích chính thức, ngoại trừ 2 kinh tế gia Akerlof and Yellen (1985b,a). Sự quan tâm đối với ảo giác tiền tệ đã được khơi lại bởi nhiều nghiên cứu cả thực nghiệm và kinh nghiệm từ giữa thập niên 1990, có thể kể đến các nghiên cứu lí thuyết của Akerlof et al. (1996, 2000) về đường Phillips, Piazzesi and Schneider (2008) về thị trường nhà, và Basak and Yan (2010) về hành vi nhà đầu tư. Trong nghiên cứu này, chúng tôi mở rộng mô hình dựa trên sở thích của Basak and Yan (2010) và kết hợp sự mở rộng này vào một mô hình tăng trưởng nội sinh. Chúng tôi nghiên cứu làm thế nào sự hiện diện của ảo giác tiền tệ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tăng trưởng nội sinh được sử dụng thông qua mô hình AK một thời kì (one-sector AK framework) của Jones and Manuelli (1990) và Rebelo (1990). Tiền tệ được đưa vào thông qua hàm MIU (mony-in-the-utility) của Sidrauski (1967a,b)2 . Chúng tôi chỉ ra rằng ảo giác tiền tệ ảnh hưởng đến nhận thức của đổi tượng về tăng trưởng và khả năng mạo hiểm đối với tài sản thực, vì vậy làm sai lệch quyết định tiêu dùng/tiết kiệm của anh ta. Theo trực giác, tài sản thực bao gồm các cân bằng tiền tệ thực. Một đối tượng bị ảo giác tiền tệ đánh giá cả giá trị thực và giá trị danh nghĩa, vì vậy cả lạm phát kì vọng và lạm phát đều có ảnh hưởng một cách không chắc chắn đến các quy luật quyết định của anh ta. Mô hình của chúng tôi dễ sử dụng và cho phép chúng tôi suy được các giải pháp cho mô hình đóng. Tuy vậy, nó cũng đủ đa dạng để cân chỉnh và đánh giá định lượng. Chúng tôi đã chứng minh được tổn thất phúc lợi của ảo 1 Theo các nhà kinh tế Keynesian (Keynes, 1936; Leontief, 1936), người lao động chịu ảnh hưởng của ảo giác tiền tệ. Nguồn cung lao động phụ thuộc vào mức lương danh nghĩa trong khi nguồn cầu phụ thuộc vào mức lương thực. Một sự gia tăng trong mức giá sẽ nâng điểm cân bằng lao động. 2 Để củng cố kết quả, chúng tôi cũng phân tích mô hình theo giới hạn tiêu dùng cash- in-advance (CIA). Chúng tôi tìm được cùng một kết quả (xem phụ lục B) 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giác tiền tệ là một hàm số ít nhất bậc 2, trong khi tác động lên tăng trưởng kinh tế dài hạn là hàm số bậc 1 đối với biến số ảo giác tiền tệ. Khi áp dụng mô hình vào số liệu kinh tế hàng năm của Hoa Kỳ từ 1960 đến 2006, chúng tôi nhận ra rằng kể cả khi mức độ ảo giác tiền tệ là thấp, ví dụ đối tượng đại diện bị ảnh hưởng chỉ 5% giá trị danh nghĩa vào quá trình ra quyết định, thì khi đó tổn thất phúc lợi bị ảnh hưởng không đáng kể ở mức 0.06% thu nhập thực tế, trong khi ảo giác này làm giảm tỉ lệ tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận ở mức 0.11 điểm phần trăm. Kết quả này bổ sung cho kết quả nghiên cứu của Basak and Yan (2010)3 , và làm gợi nhớ lại kết luận của Keynesian rằng một sự sai lệch nhỏ trong lí trí thuần túy chỉ làm phúc lợi tổn thất ở mức thấp, nhưng có thể có tác động đáng kể lên hậu quả kinh tế Akerlof (2002); Akerlof and Yellen (1985a); Mankiw (1985). Chúng tôi diễn giải trong lí thuyết, nhà ban hành chính sách tiền tệ có thể chọn mức tăng trưởng của cung tiền phù hợp để triệt tiêu tổn thất gây ra bởi ảo giác tiền tệ bằng cách điều chỉnh lại các sai lệch ở quyết định tiêu dùng/tiết kiệm. Chính sách tiền tệ này bao gồm cả một tỉ lệ lạm phát kì vọng khác 0 hoặc một lãi suất danh nghĩa hằng định sao cho sự sai lệch do việc đối tượng quan niệm sai lầm về tăng trưởng và rủi ro của tài sản thực bù trừ lẫn nhau. Có thể lập luận rằng ảo giác tiền tệ sẽ không còn trong mô hình dài hạn bởi vì khi đó đối tượng đã nhận thức được. Tuy nhiên, như Shafir et al. (1997) đã lập luận, ảo giác tiền tệ xuất hiện trong phần lớn các trường hợp bởi vì một cá nhân suy nghĩ dựa trên giá trị danh nghĩa thì dễ dàng và tự nhiên hơn là suy nghĩ về giá trị thực. Khuynh hướng này tồn tại dai dẳng, mặc cho sự cố gắng của nhà kinh tế trong việc cải thiện nhận thức của công chúng. Akerlof et al. (2000) đã sử dụng nhiều bằng chứng tâm lí học để chứng minh rằng chính lạm phát cao, chứ không phải thời gian, mới làm xua tan ảo giác tiền tệ. Lạm phát cao dễ bị chú ý nên người ta sẽ chủ động phân biệt sự khác nhau giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ