Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ ĐỒNG SƠN, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên. Vị trí địa lý, địa hình. Đồng Sơn là xã đặc biệt khó khăn của huyện tân sơn, nằm cách trung tâm huyện 20km về phía Tây.
Phía Bắc giáp xã Thu Cúc; Phía Nam giáp xã Xuân Sơn; Phía Đông giáp xã Lai Đồng; Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Từ vị trí này cho thấy văn hóa của người Mường ở trên địa bàn xã đã có sự giao lưu với các nền văn hóa của các vùng lân cận trong đó có tang ma truyền thống. Là một xã miền núi nên địa hình xã Đồng Sơn chủ yếu là đồi núi cao, giao thông đi lại khó khăn, diện tích đất trồng lúa hạn hẹp. Địa hình này đã có sự tác động đến văn hóa truyền thống của dân tộc như lựa chọn nơi cư trú, và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Tài nguyên thiên nhiên Phong phú và đa dạng với nhiều loại động, thực vật khác nhau. Diện tích rừng tự nhiên không còn nhiều nên đã ảnh hưởng đến các sinh hoạt văn hóa của vùng. Thổ nhưỡng Hàm lượng dinh dưỡng của đất từ trung bình đến nghèo, độ PH từ trung bình đến chua. Do độ dốc lớn nên có hiện tượng rửa trôi bề mặt nên chỉ thích hợp với trồng cây công nghiệp ngắn ngày là chủ yếu.
Điều này ảnh hưởng đến các lễ vật cúng tế trong tang ma của người Mường. Khí hậu Đồng Sơn là xã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Gió chia làm 2 mùa chính: gió mùa đông Nam từ tháng 5 đến tháng 10 vào mùa mưa và gió mùa 11 đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau có kèm theo sương giá gây khó khăn và thiệt hại cho trồng trọt, chăn nuôi. Thủy văn Xã có 2 dòng suối chính là suối Thân và suối Thúc, nguồn nước chủ yếu là từ các dòng suối nhỏ đổ về.
Đây chính là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất lúa nước và phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của người dân trong xã. Người Mường ở xã Đồng Sơn, huyện Tân sơn, tỉnh Phú Thọ 1. Nguồn gốc, dân số, phân bố dân cư Nguồn gốc dựa vào kết quả từ nghiên cứu dân tộc học, khảo cổ học và văn học dân gian cho thấy người Mường có chung nguồn gốc với người Kinh (Việt). Tuy vấn đề về nguồn gốc của người Mường và người Kinh hiện nay vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu, song hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng họ là người cư dân bản địa, ý kiến được nhiều người tán đồng nhất là tổ tiên của người Việt Mường là người Lạc Việt một chủ nhân của văn hóa Đông Sơn.
Các thời kỳ sau do những nguyên nhân và điều kiện lịch sử nhất định mà sự phân hóa đã nảy sinh, khối cộng đồng Lạc Việt đã phân ly thành Kinh – Mường. Người Mường ở Phú Thọ nói chung và người Mường ở xã Đồng Sơn, huyện Tân Sơn nói riêng chủ yếu là cư dân gốc định cư từ lâu đời, một số ít di cư từ Hòa Bình lên đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước. Về dân số: theo số liệu của tổng cục thống kê công bố năm 2009 thì người Mường có số dân là 1. Phú Thọ là một trong những địa bàn cư trú chủ yếu của người Mường.
Người Mường ở Phú Thọ hiện nay có 165.748 người chiếm 13,62% dân số (Theo số liệu điều tra ngày 1/4/2001). Chiếm 91% dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh. 12 Người Mường ở xã Đồng Sơn phân bố đồng đều ở các xóm Mít 1, Mít 2, Măng 1, Măng 2, Xuân 1, Xuân 2. Dân số của các xóm này đại đa số là người Mường, chỉ có một số ít là người dân tộc khác di cư đến nhưng họ cũng sinh hoạt giống như người Mường.
Hoạt động kinh tế Đồng bào Mường ở xã Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ sống ổn định từ lâu đời, định canh, định cư ở các vùng núi thấp nơi có nhiều đất sản xuất và gần đường giao thông thuận lợi cho việc đi lại và làm ăn. Nguồn sống chủ yếu là thâm canh cây lúa nước, kết hợp với nương rẫy và phát triển chăn nuôi các loại gia súc gia cầm như: trâu, bò,lợn, gà, vịt. phục vụ cho sản xuất cũng như phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày và lễ vật cúng tế. Đồng bào Mường ở đây trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp trở thành lương thực ăn hàng ngày của họ.
Do vậy trong các nghi lễ của người Mường đặc biệt trong lễ vật cúng tế không thể thiếu xôi. Ngoài lúa nước các hộ gia đình người Mường còn có nghề phụ như: khai thác lâm sản gỗ, tre, nứa, mây… cùng với nghề thủ công ươm tơ, dệt vải, đan lát và chăn nuôi gia cầm. Vì vậy các lễ vật cúng tế cũng như tang ma hầu hết là do họ tự làm ra. Nhiều phụ nữ Mường dệt thổ cẩm với kĩ thuật tinh xảo.
Và các bộ Tang phục của người Mường đều do đồng bào tự dệt.3 Đặc điểm về văn hóa 1. Văn hóa vật chất Bản Làng Người Mường ở xã Đồng Sơn sống tập trung thành từng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối. Mỗi xóm có khoảng vài chục nóc nhà không có một quy định chung nào về cách thức xây dựng cũng như 13 hướng nhà. Tên xóm được đặt theo tên của loại cây, măng, và tên con suối.
Các gia đình anh em, họ hàng thường ở sát nhà nhau trong xóm. Cấu trúc nhà ở Nhà ở của người Mường nói chung và người Mường ở xã Đồng Sơn nói riêng thể hiện đậm nét các giá trị văn hóa truyền thống. Do lượng mưa nhiều và độ ẩm cao, địa hình đồi núi nên đại bộ phận người Mường ở Đồng Sơn ở nhà sàn, kiểu nhà 4 mái, phần trên sàn là người ở, dưới gầm sàn là chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo và các công cụ sản xuất khác. Khi gia đình có tang sẽ được thực hiện ở gian đầu của nhà sàn, gần bàn thờ tổ tiên.
Trong sử thi “ Đẻ đất đẻ nước” có một áng nhỏ về kỹ thuật dựng nhà của người Mường. Chuyện kể rằng xưa kia con người chưa có nhà ở phải trú ngụ trong những bụi cây, hốc đá. Một hôm Tá Cần bắt được một con rùa, định đem làm thịt thì con rùa van xin ông và hứa nếu được tha rùa sẽ nói cách làm nhà. Nghe vậy Tá Cần tha cho rùa rồi rùa mách bảo rằng: Bốn chân tôi là bốn cái cột Hai vỉa sườn là hai mái nhà Xương sống nên đòn nóc bắc kéo cái Xương sườn nên rui Lễ đầu làm lối lên cửa chạn Theo lời rùa Tá Cần dựng nhà, dựng lần đầu không thành công, dựng tiếp lần hai lại đổ, dựng đi, dựng lại không thành công, ông nổi giận định quăng rùa vào lửa, mỗi lần như vậy rùa lại chỉ vẽ cho Tá Cần kĩ lưỡng hơn, cuối cùng Tá Cần cùng dân Mường dựng được ngôi nhà làm nơi ăn chốn ở.
Đầu hồi nhà của người Mường bao giờ cũng có một chiếc đuống. Đuống là dụng cụ để vò thóc, đồng thời là dụng cụ báo hiệu khi nhà có việc 14 lớn như đám cưới, đám tang. Bên cạnh đó đuống còn là nhạc cụ gõ tạo nên những bản nhạc đặc sắc trong những ngày lễ tết, hội hè. Nhà sàn của người Mường ở xã Đồng Sơn, Tân sơn, Phú Thọ khác với người Mường ở vùng khác là chỉ có một cầu thang đi lại.
Vì họ quan niệm: nhà 2 cầu thang sẽ mang lại sự xui xẻo, của cải sẽ không giữ được trong nhà “vào đầu này ra đầu kia” nên cả vùng không thấy loại nhà có 2 cầu thang. Do đó khi nhà có tang, lúc chuyển quan tài ra ngoài họ phải chuyển qua cửa sổ. Vì theo quan niệm của người Mường ở vùng này thì cầu thang chỉ dành cho người sống. Khuôn viên trong gia đình của người Mường thường có hàng cau và cây mít.
Vì vậy trong các nghi lễ chu kì đời người cũng như trong các sinh hoạt tín ngưỡng khác, lễ vật cúng bao giờ cũng phải có trầu cau. Trang phục: Trang phục của người Mường ở Đồng Sơn mang những sắc thái riêng vẫn còn được lưu giữ, chủ yếu trong lớp người cao tuổi. Nam mặc áo xẻ ngực, cổ trần, hai túi dưới hoặc túi trên ngực trái, màu chàm. Quần dài, rộng, thắt lưng quấn quanh cạp.
Bộ y phục phụ nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là loại khăn vuông màu đen có kích thước 75x75cm không thêu thùa, khi đội khăn họ búi tóc sau gáy rồi buộc khăn trùm phía ngoài. Áo được cắt may bằng vải thô tự dệt, thường nhuộm màu nâu hoặc để trắng. Áo may kiểu tứ thân không xẻ tà, giữa sống lưng có đường khâu chia áo thành hai nửa bằng nhau.
Cổ áo tròn không có cúc cài hoặc cổ áo liền với nẹp ngực có đơm cúc cài. Tay áo liền với thân được nối ở giữa tay. Yếm được may bằng vải thô tự dệt màu trắng hoặc đỏ, hình vuông rộng 50cm, hai đầu có đính hai dây buộc sau gáy, hai cạnh có đính dây buộc ngang lưng. Váy là loại váy kín màu đen.
Toàn bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn của cạp váy nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Thắt lưng bằng vải tơ tằm 15 nhuộm xanh, dài 300cm, rộng 28cm, khi dùng họ gập nhỏ theo chiều dọc và quấn nhiều vòng xung quanh người, hai đầu để buông sau lưng hoặc giắt hai bên cạnh. Ngày nay, thanh niên Mường ở Đồng Sơn ăn mặc như người Kinh. Đặc biệt người Mường ở Đồng Sơn còn có trang phục riêng cho tang ma hay còn gọi là tang phục.
Ẩm thực: Người Mường ở Đồng Sơn cũng giống như nhiều nơi khác, họ vẫn tự hào về ẩm thực của họ. Điều đó được ghi nhận qua việc lưu truyền trong xã hội những câu ca dao khá nổi tiếng như: “củ mài, rau sắng, măng đắng, mật ong” hoặc: “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui ngày lui tháng tới”. Trong xã hội truyền thống của người Mường do nguồn lương thực còn hạn chế do vậy đồng bào phải kiếm lương thực từ những thứ có sẵn trong tự nhiên như: “Củ mài, rau sắng, măng đắng, mật ong” để làm thức ăn hàng ngày của họ và sau này những món ăn đó lại trở thành những món ăn được nhiều người yêu thích.