Chương 1. 23 Nghệ Xung dựa vào việc năm Trinh Quán thứ 12 (638), nhà Đường bỏ 3 châu: Minh, Nguyên, Hải, năm Trinh Quán thứ 16 (642) bỏ 2 châu: Trí, Diễn; Hoan Châu Đô đốc phủ như vậy chỉ còn 3 châu: Hoan, Lâm, Cảnh và do vậy bị bãi bỏ [Nghệ 2011: 3].「十二年、廢明、源、海三州(中略)十六年、廢演州」(『舊唐書』卷 41、安南府、驩州). 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (642), Hoan Châu chỉ còn cai quản 3 châu: Hoan, Lâm, Cảnh. Có lẽ Hoan Châu Đô đốc phủ đã bị xóa bỏ vào năm 679, cùng thời điểm với việc thiết lập An Nam Đô hộ phủ24.
Sau này, cùng với sự bùng nổ của khởi nghĩa Phùng Hưng, ngày 20 tháng 4 năm Trinh Nguyên thứ 7 (791), nhà Đường phải tái lập Hoan Châu Đô đốc phủ, đồng thời lập thêm Phong Châu Đô đốc phủ để cai quản các châu kimi ở vùng biên giới với Nam Chiếu25. Song song với An Nam Đô hộ phủ, từ năm Khai Nguyên thứ 21 (733), An Nam và các châu Quảng, Quế, Dung, U còn được đặt dưới đơn vị “Lĩnh Nam ngũ phủ” ( “Ngũ quản”). Tại mỗi phủ, nhà Đường đặt ra một tổ chức quân sự gọi là “Kinh lược quân”, nằm dưới sự quản lý của “Kinh lược sứ”26. Theo “Phương trấn biểu” của Tân Đường thư (q.69), từ năm Thiên Bảo thứ 10 (751), nhà Đường còn lập thêm “An Nam quản nội Kinh lược sứ”, đến năm Kiền Nguyên nguyên niên (758) đổi thành “An Nam Tiết độ sứ”27.
Năm Thiên Bảo nguyên niên (742), nhà Đường đổi “châu” thành “quận”. Tuy nhiên, khác với thời Tùy Dạng Đế khi đổi châu thành quận đã xóa bỏ Tổng quản phủ, nhà Đường vẫn giữ lại “An Nam phủ”. Có thể thấy rõ điều này trong Thiên Bảo sơ niên địa chí tàn quyển (742), “An Nam phủ” vẫn tồn tại cùng với các quận. Vào tháng 9 năm Chí Đức thứ 2 (757), An Nam Đô hộ phủ được đổi tên thành Trấn Nam 鎮南 Đô hộ phủ, do nhà Đường kị chữ “An” sau Loạn An Lộc Sơn28.
Đến năm Vĩnh Thái thứ 2 (766) hoặc Đại Lịch thứ 3 (768), Trấn Nam Đô hộ phủ lại được đổi về tên cũ là An Nam Đô hộ phủ29. Tháng 4 năm Hàm Thông thứ 4 (863), sau khi 24 Hiện nay, chúng ta chưa rõ thời điểm nhà Đường bãi bỏ Lâm Châu và Cảnh Châu. 25 「新升都督府峯州驩州、並貞元七年四月二十日升」(『會要』卷 71、安南都護府). 26 「嶺南五府經略使、綏靜夷獠、統經略、清海二軍、桂管、容管、安南、邕管四經略使(中略)安南經略使, 治安南都護府,即交州,管兵四千二百人」(『舊唐書』卷 38 、嶺南五府經略使).
27 「天寶十載、置安南管內經略使、領交、陸、峰、愛、驩、長、福祿、芝、武峨、演、武安十一州、治交州」、 「乾元元年、升安南管內經略使為節度使」(『新唐書』卷 69、方鎮表). 28 Địa lý chí của Cựu Đường thư (q.41), Tân Đường thư (q.43 thượng), Nguyên Hòa (q.38) đều chép sự kiện này vào năm Chí Đức thứ 2 (757). Riêng phần “Phương trấn biểu” của Tân Đường thư (q.69) chép vào năm Quảng Đức thứ 2 (764). Nghệ Xung theo thuyết 764 [Nghệ 2011: 11].
Tác giả Luận án cho thuyết năm 757 là chính xác, vì ngoài các tư liệu trên, Cựu Đường thư (q.199 thượng) có chép thêm việc Triều Hành được phong làm “Trấn Nam Đô hộ” vào niên hiệu Thượng Nguyên (760-761).「改安南節度使為鎮南大都護、都防禦觀察經略使」(『新唐書』卷 69、方鎮表).「上元中、 擢衡為左散騎常侍、鎮南都護」(『舊唐書』 卷 199 上、日本國). 29 Về thời điểm khôi phục tên gọi An Nam Đô hộ phủ, có nhiều ghi chép khác nhau. Cựu Đường thư (q.11) chép vào ngày 6 (Nhâm Thìn) tháng 2 năm Vĩnh Thái thứ 2 (766). Tân Đường thư (q.69) (Phương trấn biểu) chép vào năm Đại Lịch 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com An Nam Đô hộ phủ bị Nam Chiếu chiếm giữ, nhà Đường bãi bỏ An Nam Đô hộ phủ, thành lập Hành Giao Châu 行交州 tại Hải Môn Trấn30 (khu vực phía Nam huyện Bác Bạch, Quảng Tây [Dương 1983]).
Đứng đầu Hành Giao Châu là Hành Giao Châu Thứ sử. Đến tháng 7 cùng năm, An Nam Đô hộ phủ lại được khôi phục và sau đó tồn tại đến khi nhà Đường diệt vong31. Ngoài ra, từ năm Hàm Thông thứ 7 (866), chức trưởng quan An Nam Đô hộ đã được thăng làm “Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ”32 (Bảng 1). Tóm lại, có thể thấy trong khoảng 300 năm từ đầu thế kỷ VII đến đầu thế kỷ X, đơn vị hành chính của chính quyền đô hộ đã có quá trình biến thiên hết sức phức tạp.
Có những thời điểm như vào cuối thời Tùy, thậm chí không tồn tại tên gọi Giao Châu (chỉ có quận Giao Chỉ), cũng không tồn tại một cơ quan như Tổng quản phủ bao trùm các châu. Có thời điểm tồn tại song song Giao Châu Đô đốc phủ và Hoan Châu Đô đốc phủ. Tương ứng với sự biến thiên của đơn vị hành chính, vị trí trưởng quan cũng không cố định ở chức Giao Châu Tổng quản hay An Nam Đô hộ, có thời điểm là Trấn Nam Đô hộ. Từ năm 733, về nguyên tắc tồn tại hai chức vụ khác nhau là An Nam Đô hộ (trưởng quan của phủ Đô hộ) và An Nam Kinh lược sứ (người đứng đầu tổ chức quân sự Kinh lược quân) (dù có thể kiêm nhiệm).
Đây là những điểm cần phải lưu ý đến khi khảo cứu từng sự kiện lịch sử cụ thể. Do bối cảnh phức tạp như vậy, khái niệm “Giao Châu” và “An Nam” trong tiêu đề Luận án chỉ không gian địa lý tương đương với địa bàn quản hạt của Giao Châu Tổng quản phủ thời Tùy và An Nam Đô hộ phủ thời Đường. Trong quá trình triển khai các luận điểm cụ thể, Luận án cũng sẽ sử dụng tên gọi “Giao Châu” cho đơn vị hành chính cấp châu dưới thời Tùy Đường. Phương pháp nghiên cứu nguyên niên (765).
Tân Đường thư (q.43 thượng), Nguyên Hòa (q.thượng), Toàn thư (q.5) chép vào năm Đại Lịch thứ 3 (768) (tư liệu đã dẫn). Đào Duy Anh, Quách Thanh Ba, Nghệ Xung theo thuyết năm 766 [Anh 1964: 72] [Nghệ 2011: 11] [Quách 2012: 48]. Túc Mỹ Linh theo thuyết 768 [Túc 1987: 130].「壬辰、鎮南都護依 舊為安南都護府」(『舊唐書』卷 11、永泰 2 年〈766〉2 月壬辰條).「三年復為安南都護府」(『史略』卷 上).「戊申唐大曆 3 年、唐復交州為安南都護府」(『全書』外紀卷 5、戊申唐大曆 3 年〈768〉條). 30 「六月廢安南都護府、置行交州於海門鎮、以右監門將軍宋戎為行交州刺史、以康承訓兼領安南及諸軍行營」 (『通鑑』卷 250、咸通 4 年〈863〉6 月條).
31 「秋七月辛卯朔、日有食之、復置安南都護府於行交州」(『通鑑』卷 250、咸通 4 年〈763〉6 年條). 32 「升安南都護為靜海軍節度使」(『新唐書』卷 69、方鎮表). 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận án không nghiên cứu về toàn bộ lịch sử Giao Châu – An Nam thời Tùy Đường, mà chỉ tập trung vào tầng lớp thủ lĩnh địa phương, thông qua nghiên cứu các trường hợp cụ thể (case study). Để làm rõ quá trình di cư, định cư và phát triển của các thủ lĩnh họ Đỗ, trong Chương 2, tác giả sẽ trình bày các sự kiện theo nguyên tắc lịch đại (diachronically).
Trong khi đó, về từng cuộc khởi nghĩa riêng lẻ, tác giả sẽ khảo chứng đồng bộ (synchronically) theo từng vấn đề, sau đó mới tổng hợp lại nhận thức mới về từng cuộc khởi nghĩa theo nguyên tắc lịch đại. Luận án sẽ khai thác một cách có hệ thống tất cả các nguồn tư liệu, bao gồm cả tư liệu văn bản, tư liệu kim thạch văn, tư liệu khảo cổ học và tư liệu dân gian. Các tư liệu được sử dụng trong Luận án đều được xử lý bằng phương pháp căn bản của nghiên cứu lịch sử là phê phán sử liệu (source criticism), theo cả hai nguyên tắc phê phán bên ngoài (external criticism) với 6 câu hỏi về niên đại – date, địa điểm – localization, tác giả – authorship, phân tích – analysis, tính nhất quán – integrity, tính xác thực – credibility) và phê phán bên trong (internal criticism) về độ tin cậy (reliability) của tư liệu dã được xác thực, đã được lý thuyết hóa bởi Gilbert J. Các cách thức lập giả thuyết, suy luận mang tính thống kê (statistical inference, ví dụ về tên tự và tên hiệu), loại suy (analogy) trong Luận án đều tuân thủ theo các nguyên tắc về phương pháp luận sử học do C.
Behan McCullagh lý thuyết hóa [McCullagh 1984]. Các dữ liệu thống kê, bảng biểu được thể hiện trong phần Phụ lục. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần làm rõ hơn một giai đoạn lịch sử là thời đô hộ Tùy Đường, đồng thời có thể được sử dụng để đính chính một số điểm chưa chính xác trong sách giáo khoa các cấp học (bao gồm cả giáo trình của một số trường đại học). Mặt khác, trên phương diện tổng quát, qua vai trò của các thủ lĩnh địa phương, Luận án cung cấp một tiền đề quan trọng góp phần lý giải sự phát triển và trưởng thành cũng như sự phân hóa của một tầng lớp xã hội giữ vai trò dẫn 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dắt đưa đến thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài của đất nước với những thành tựu phục hưng rực rỡ của nền văn minh Đại Việt.
Cũng từ đó có thể rút ra những bài học lịch sử mang nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong lịch sử tồn vong của đất nước khi đứng trước những thử thách hiểm nghèo. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ CƠ SỞ TƯ LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi nghiên cứu thời Bắc thuộc, phân tích cơ cấu xã hội, nhiều học giả đã chú ý đến vai trò của những người lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, gọi họ bằng những từ như “hào trưởng địa phương”, “quý tộc bản xứ”, “thủ lĩnh”…, nhưng nghiên cứu sâu cũng như đưa ra được những nhận định đáng chú ý là ba tác giả: Henri Maspéro, Trần Quốc Vượng và Keith Weller Taylor.
Năm 1918, trong bài viết “Etudes d'histoire d'Annam (Nghiên cứu Lịch sử An Nam)”, học giả người Pháp Henri Maspéro đã chỉ ra một thay đổi quan trọng trong kết cấu quyền lực địa phương sau thất bại của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Mặc dù lãnh thổ Âu Lạc đã bị sáp nhập vào bản đồ Nam Việt năm 179 TCN và sau đó là đế chế Hán năm 111 TCN, nhưng cho đến trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-43), theo Giao Châu ngoại vực ký, Nam Việt và nhà Hán chỉ mới quản lý được ở cấp châu – quận, “các Lạc tướng vẫn quản dân như cũ”33.