Chương 1: Tổng quan về nguồn thu từ dịch vụ tại các ngân hàng hiện nay. Chương 2: Thực trạng hoạt động thu phí từ dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân Đội. Chương 3: Giải pháp gia tăng nguồn thu phí từ dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN THU TỪ DỊCH VỤ TẠI CÁC NGÂN HÀNG HIỆN NAY 1.
Tổng quan về dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ phi tín dụng Theo từ điển thuật ngữ ngân hàng của Nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ năm của Thomas P. Fitch định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: dịch vụ phi tín dụng (non credit banking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp (Thomas P. Thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng có thể là một nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính.
Ví dụ dịch vụ phi tín dụng bao gồm sự tin tưởng và các khoản thu liên quan đến đầu tư, quản lý tiền mặt toàn cầu, trao đổi tiền tệ nước ngoài. Ngoài ra, theo dự án Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam của tổ chức Diloitte Touche Tohmatsu, dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc bởi các tổ chức tài chính mà không phải là những dịch vụ tín dụng (Diloitte Touche Tohmatsu, 2013). Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Như vậy, dịch vụ phi tín dụng là toàn bộ các dịch vụ ngân hàng không kể dịch vụ tín dụng, nó cũng có đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng.
Điểm khác biệt cơ bản so với dịch vụ tín dụng là khi thực hiện các dịch vụ phi tín dụng, ngân hàng không thu lãi mà thu các khoản phí từ dịch vụ do mình cung cấp. Để đơn giản hoá cách hiểu và nhận biết, có thể dựa vào hai tính chất cơ bản của dịch vụ phi tín dụng nhằm phân biệt với dịch vụ tín dụng: 5 Một là, dịch vụ phi tín dụng không yêu cầu khách hàng sử dụng đến nguồn vốn trong giao dịch. Hai là, dịch vụ phi tín dụng chỉ được cung cấp khi khách hàng chi trả một khoản phí cho Ngân hàng. Mức phí này do Ngân hàng quy định, hoặc phụ thuộc vào thỏa thuận dịch vụ.
Lúc này, thu nhập của Ngân hàng là thu từ phí chứ không phải thu từ lãi giống như cung cấp dịch vụ tín dụng. Tuy nhiên, trong quá trình cung ứng dịch vụ, dịch vụ phi tín dụng có thể phát sinh đồng thời với hoạt động của dịch vụ tín dụng (huy động vốn và cung cấp vốn) của ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi và tiền vay của khách hàng như mong muốn. Bên cạnh đó, còn nhiều dịch vụ phi tín dụng khác vận hành hoàn toàn độc lập với hoạt động tín dụng. Sự khác nhau giữa dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng Nhìn chung dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng đều là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng.
Chúng đều mang đầy đủ các thuộc tính của dịch vụ như: vô hình, không thể tách rời, không thể lưu trữ được. Sự khác biệt giữa dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng được thể hiện qua các đặc điểm như sau: Về mặt nghiệp vụ, dịch vụ tín dụng không làm phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến việc cung cấp và thu hồi tài sản đối với khách hàng. Dịch vụ phi tín dụng khi được ngân hàng cung cấp đến tới khách hàng thì không làm phát sinh các khoản mục cho vay trong phần tài sản của Bảng cân đối kế toán của ngân hàng, hay nói cách khác là dịch vụ không làm ngân hàng phải chuẩn bị một khoản tiền thực để nhận lại khoản tiền đó sau một thời gian. Lãi suất, dịch vụ tín dụng chịu tác động trực tiếp từ lãi suất.
Dịch vụ phi tín dụng không chịu tác động trực tiếp của lãi suất. Đối với dịch vụ phi tín dụng, thu nhập được 6 hình thành từ phí dịch vụ, chênh lệch giá, hoa hồng,… Như vậy, để đánh giá hoạt động phi tín dụng của một ngân hàng có thể căn cứ vào tỷ lệ thu ngoài lãi trên tổng thu nhập. Tỷ lệ này càng cao, càng chứng tỏ tính hiệu quả của dịch vụ phi tín dụng. Do đó, sự thay đổi về lãi suất không tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh cũng như việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng.
Dịch vụ phi tín dụng không hiện hữu: dịch vụ phi tín dụng không thể cảm nhận được bằng các giác quan, và kết quả được biểu hiện qua một số yếu tố - là phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng như: địa điểm cung ứng, thái độ của giao dịch viên, thời gian xử lý công việc, môi trường giao dịch,… Dịch vụ phi tín dụng rất dễ bị bắt chước: khác với dịch vụ tín dụng, dịch vụ tín dụng của mỗi ngân hàng được xây dựng trên cơ chế quản lý và khẩu vị rủi ro riêng biệt, đối tượng khách hàng hướng đến; dịch vụ phi tín dụng có thể giống nhau ở nhiều ngân hàng nếu nó mang lại hiệu quả kinh doanh tốt. Các dịch vụ phi tín dụng có thể được cung cấp trọn gói mà không giới hạn số lượng sản phẩm trong gói: các dịch vụ phi tín dụng đều có mối quan hệ với nhau tạo thành một chu trình mật thiết. Các mối quan hệ này tạo ra một hệ thống hỗ trợ lẫn nhau trong sự phát triển các dịch vụ ngân hàng. Nhờ đó ngân hàng có thể phát triển dịch vụ bền vững, phát huy tính hệ thống của dịch vụ và có thể cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng.
Việc cung cấp các dịch vụ phi tín dụng cho khách hàng không tuân theo nguyên tắc hoàn trả: doanh thu, chi phí cho các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng không bao gồm các khoản lãi thu được từ việc cấp tín dụng cho khách hàng hay lãi phải trả từ việc vay vốn của khách hàng. Do đó, việc cung cấp dịch vụ phi tín dụng cho khách hàng được thực hiện theo hình thức “mua đứt bán đoạn” mà không có sự hoàn trả từ phía khách hàng. Các loại hình dịch vụ phi tín dụng 1. Dịch vụ thanh toán Dịch vụ thanh toán bao gồm dịch vụ thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế.
Trong đó, - Dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm các hình thức dịch vụ sau: Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (UNC): là phương thức thanh toán được ngân hàng thực hiện theo UNC của khách hàng bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng lập UNC sang tài khoản tiền gửi thanh toán của bên thụ hưởng (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014). Thanh toán bằng ủy nhiệm thu (UNT): là phương thức thanh toán mà khách hàng lập UNT theo mẫu của ngân hàng để ủy nhiệm ngân hàng thu hộ tiền người mua, người nhận cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở hợp đồng thương mại giữa hai bên (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014). Thanh toán bằng séc: séc là một loại giấy tờ có giá mang giá trị thanh toán vô điều kiện của chủ tài khoản lập dưới dạng văn bản yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chi trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản từ tài khoản tiền gửi thanh toán của người ký phát séc cho người thụ hưởng trên tờ séc hoặc trả theo lệnh của người thụ hưởng hoặc trả cho người xuất trình (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014). Thanh toán bằng thư tín dụng: là hình thức thanh toán trong nước chủ yếu được thực hiện trong các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014).
Thanh toán bằng thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán do Ngân hàng phát hành bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, các khoản thanh toán khác, rút tiền 8 mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy rút tiền tự động (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014). - Dịch vụ thanh toán quốc tế. Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ liên quan đến các mối quan hệ kinh tế, thương mại, và các mối quan hệ phi kinh tế khác giữa các tổ chức, công ty, cá nhân các nước đã thông qua hoạt động hệ thống ngân hàng có quan hệ đại lý trên toàn thế giới (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014). Trong dịch vụ thanh toán quốc tế hiện nay, thường sử dụng các phương thức thanh toán như: Phương thức thanh toán chuyển tiền: là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người mua, người trả tiền, người nhập khẩu…) yêu cầu ngân hàng phục vụ chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (người bán, người xuất khẩu, người nhận tiền) ở một địa điểm xác định trong một thời gian nhất định (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014).
Phương thức thanh toán nhờ thu: là phương thức thanh toán trong đó công ty xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ sẽ tiến hành ủy thác cho ngân hàng của mình, thu hộ tiền từ công ty nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và bộ chứng từ xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo thỏa thuận (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả khác, 2014). Phương thức thanh toán nhận chứng từ: là phương thức mà nhà nhập khẩu sẽ ký với ngân hàng một bản ghi nhớ gồm 2 phần: (phần 1) mở một tài khoản tín chấp mang tên nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu hưởng lợi; (phần 2) yêu cầu về bộ chứng từ thanh toán mà nhà xuất khẩu phải xuất trình cho ngân hàng. Nhà nhập khẩu sẽ chuyển tiền vào tài khoản tín chấp. Sau khi nhận được thông báo từ ngân hàng, nhà xuất khẩu sẽ tiến hành giao hàng và thành lập bộ chứng từ thanh toán và thanh toán nếu bộ chứng từ hợp lệ.