Lời mở đầu Phần I: Giới thiệu chung về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Hà Tây. Phần II: Phân tích thống kê tình hình tiêu thụ hàng mỹ nghệ của tỉnh từ 1997-2001 Phần III: Các phương hướng và giải pháp Kết luận và kiến nghị. 3 Phần I Giới thiệu chung về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở Hà Tây I. Những lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 1.
Khái niệm hàng thủ công mỹ nghệ Hàng thủ công mỹ nghệ là các mặt hàng thuộc ngành nghề truyền thống, được sản xuất ra bởi các nghệ nhân và thợ thủ công, được truyền từ đời này qua đời khác. Các sản phẩm này thường rất tinh xảo và độc đáo. Từ những nguyên liệu như: gỗ, vỏ trai, vỏ ốc,. được những nghệ nhân khéo léo tạo ra sản phẩm mỹ nghệ mang đậm bản sắc dân tộc.
Các sản phẩm mỹ nghệ như: tủ thờ, tủ đứng, sập gụ, bộ bàn ghế, tất cả đều có kiểu rất cổ trên đó có những đường nét hoa văn mềm mại, uyển chuyển. Hàng thủ công mỹ nghệ chứa đựng các yếu tố văn hoá một cách đậm nét vì chúng là sản phẩm truyền thống của dân tộc. Mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá riêng và có cách thể hiện riêng qua hình thái, sắc thái sản phẩm. Chính điểm này đã tạo nên sự độc đáo, khác biệt giữa các sản phẩm có cùng chất liệu ở các quốc gia khác nhau.
Nhìn chung các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều thể hiện mảng đời sống hiện thực, văn hoá tinh thần với sắc màu đa dạng hoà quyện, mang tính nghệ thuật đặc sắc. Do đó chúng không chỉ là những vật phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những sản phẩm phục vụ đời sống tinh thần đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của các dân tộc. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được tạo ra nhờ sự khéo léo của các thợ thủ công, sản xuất bằng tay là chủ yếu nên các sản phẩm có chất lượng không đều, khó tiêu chuẩn hoá. 4 - Với sự phát triển của cuộc sống, nhu cầu về sản phẩm thủ công mỹ nghệ ngày càng cao.
Mặc dù khoa học công nghệ cho phép sản xuất ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú và đẹp nhưng các sản phẩm này thường được sản xuất hàng loạt, mang tính đồng nhất, chính xác đến từng chi tiết nên biểu cảm tính nghệ thuật cao. Bởi vậy các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dù tinh xảo hay mộc mạc đều khẳng định được chỗ đứng trong đời sống con người. - ở Việt Nam, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ gần đây đang khởi sắc do nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu đều tăng lên. Cùng với sự mở rộng giao lưu văn hoá, kinh tế giữa các nước trên thế giới, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường nhiều nước Châu Âu, Đông á, Mỹ và Nam Mỹ.
Do vậy, quan tâm và có chính sách thoả đáng phát triển các ngành nghề này, mở rộng thị trường xuất khẩu là thiết thực bảo tồn và phát triển một trong những di sản văn hoá quý giá của dân tộc Việt Nam ta. Bên cạnh ý nghĩa góp phần truyền bá, giới thiệu văn hoá truyền thống ra thế giới, việc đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này còn góp phần tạo ra một lượng lớn công ăn viẹc làm, giải quyết tình trạng dư thừa lao động, nhất là ở nông thôn trong thời gian nông nhàn, giúp họ có thêm thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo. - Đối với tỉnh Hà Tây, việc phát triển thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho các lao động trong nghề mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn cho tỉnh đó là giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tỉnh,. - Tuy nhiên với sản phẩm ngày càng nhiều, nhu cầu của khách hàng đòi hỏi ngày càng cao thì việc thay đổi mẫu mã, chất lượng là việc làm cực kỳ quan trọng để sản phẩm có được chỗ đứng trên thị trường.
Các hình thức tổ chức sản xuất. Hộ gia đình. Có 2 loại hộ gia đình sản xuất. 5 - Hộ chuyên làm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.
- Hộ gia đình kiêm nghiệp (tức là còn một nghề khác, thường là nghề nông). Hình thức này tận dụng được mọi lao động trong gia đình từ cụ già đến trẻ em đều có thể làm được, để tổ chức sản xuất và quản lý cho phù hợp với trình độ của người thợ thủ công hiện nay. Nó làm cho người thợ dễ nhận ra kết quả và có thể tính toán được hiệu quả của sản xuất hàng ngày. Vì là sản phẩm của gia đình mình, nó ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế của gia đình nên những người thợ bao giờ cũng cố gắng để có nhiều sản phẩm và chất lượng cao.
Hình thức này còn huy động được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân (qua hình thức đi vay), tận dụng được mặt bằng sản xuất. Tuy nhiên, sản xuất theo hộ gia đình cũng có những hạn chế của nó. Mỗi gia đình không đủ sức để nhận những hợp đồng lớn, không đủ mạnh để cải tiến mẫu mã sản phẩm, không đủ vốn cho đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và không đủ tầm nhìn để định hướng phát triển nghề nghiệp ở tầm xa hơn. Lối đào tạo theo nghề truyền thống ở hình thức này cũng có giới hạn ở người học việc, không đủ kiến thức văn hoá, kỹ thuật và xã hội để tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến, không đủ khả năng tính toán trước thị trường tiêu thụ.
Ngày nay hộ gia đình là hình thức sản xuất phát triển nhanh với số lượng đông đảo và đa dạng có xu hướng phát triển cả về chất lượng và số lượng. Doanh nghiệp tư nhân. Đây là một dạng hộ ngành nghề phát triển trở thành tiểu thủ, do chủ gia đình có một trong những điều kiện: có tay nghề cao, có vốn, có năng lực kinh doanh bỏ vốn mua nguyên vật liệu, thuê nhân công sản xuất tập trung hoặc làm gia công phần lớn ở từng hộ gia đình, sau đó tập trung sản phẩm tìm mối hàng tiêu thụ. Tổ hợp sản xuất - Đây là tổ chức của 1 số hộ gia đình cùng nghề tập hợp lại, hùn vốn để mua nguyên liệu đưa về từng hộ tự sản xuất hoặc sản xuất tập trung.
Sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm được gom về và cử người đi bán. - Hình thức này làm tăng thêm sức mạnh cho từng thành viên để phát triển sản xuất, phát triển khả năng kinh doanh, khắc phục được phần nào những hạn chế về vốn mà hình thức hộ gia đình gặp phải. Hiện nay, hình thức này cũng đang phát triển và rất thịnh hành trong làng nghề truyền thống. - Tuy nhiên nó cũng có giới hạn riêng đó là trong tổ sản xuất thì hộ gia đình vẫn là hình thức cơ bản, họ vẫn phải tự chịu trách nhiệm toàn bộ công việc sản xuất kinh doanh của mình trước những biến động của thị trường.
Công ty trách nhiệm hữu hạn. - Là công ty do các cổ đông góp vốn cổ phần sản xuất kinh doanh một hoặc nhiều mặt hàng tiểu thủ công nghiệp. - Hình thức này là hạt nhân mà các vệ tinh xung quanh nó là các hình thức khác. Nó là động lực mạnh thúc đẩy làng nghề truyền thống thành các "phố làng", tạo điều kiện cho các thị trấn, thị tứ ra đời.
Tuy nhiên nó có hạn chế về vốn đối với các hộ muốn tham gia. Hợp tác xã - Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cơ khí, xây dựng, vận tải, dịch vụ kinh tế kỹ thuật. - Thời kế hoạch hoá tập trung, hợp tác xã là hình thức phổ biến trong các làng nghề. - Trước hết, hợp tác xã tập hợp được năng lực của cả làng nghề, đứng ra nhận những hợp đồng gia công lớn, đem lại việc làm cho các gia đình trong làng.
Bằng nguồn vốn góp và vốn vay, hợp tác xã có khả năng trang bị kỹ thuật mới; cải tiến công nghệ. 7 - Nhiều nơi hợp tác xã đứng ra tổ chức đào tạo thợ, trong đó có nhiều người được cử đi học thành cán bộ kỹ thuật cao, điều mà từng hộ gia đình không thể làm được. - Một số hợp tác xã sử dụng quĩ chung để đãi ngộ nghệ nhân, lập phòng truyền thống, sưu tầm tư liệu góp phần trực tiếp giữ gìn và phát triển nghề truyền thống. - Bên cạnh những mặt được nêu trên, hợp tác xã cũng có những nhược điểm của nó.
Chẳng hạn như vai trò của nghệ nhân, thợ giỏi vốn là người chủ sản xuất của gia đình, là hạt nhân để duy trì nghề nghiệp và gìn giữ truyền thống lại không được coi trọng trong hợp tác xã. Ban quản trị hiếm khi là người giỏi nghề, do đó nhiều làng nghề không giữ được các kỹ thuật truyền thống, chất lượng sản phẩm không tương xứng với truyền thống. - Khi chuyển sang kinh tế thị trường, mô hình HTX chỉ còn lại rất ít trong các làng nghề. Những HTX còn tồn tại được là do biết chuyển đổi phương thức hoạt động phù hợp với cơ chế mới thì hoạt động rất tốt, hiệu quả rất cao.
Hình thức HTX mới này lấy hộ sản xuất là chính, do đó hoạt động của các làng nghề truyền thống có hiệu quả hơn. Như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, mối hình thức tổ chức kinh doanh trong các làng nghề đều có những mặt tích cực và hạn chế nhất định với hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề. Tình hình tiêu thụ sản phẩm. Trong những năm qua cùng với sự đi lên của các làng nghề, nhiều sản phẩm mỹ nghệ được sản xuất ra, cùng với sự mở rộng của các thị trường tiêu thụ, tình hình tiêu thụ sản phẩm mỹ nghệ của tỉnh đã phát triển đáng kể.
Sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ ngay địa phương và rộng hơn là các thành phố trong nước, đặc biệt là ở Hà Nội. Một số có chất lượng cao được đưa đi xuất khẩu sang các nước trên thế giới. 8 Nhìn chung thị trường trong nước cũng như xuất khẩu chưa ổn định. Trong các sản phẩm rất ít mặt hàng tạo ra được ưu thế cạnh tranh với nước ngoài.
Giá hàng xuất khẩu chưa cao và thu nhập do người lao động trực tiếp ở ngành nghề thu được còn thấp trong khi lưu thông hưởng tỷ lệ cao nên chưa khuyến khích người lao động trực tiếp sản xuất.