Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh tra thuế Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng thanh tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh Chương 4: Giải pháp tăng cường thanh tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh. 5 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA THUẾ 1. Những nội dung cơ bản về thanh tra thuế 1. Khái niệm thanh tra thuế Thanh tra thuế là chức năng thiết yếu của cơ quan thuế đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm thanh tra thuế, trước hết cần nắm được khái niệm thanh tra. Hoạt động thanh tra là việc xem xét tại chỗ, làm rõ những việc làm đúng sai đối với những vụ việc và hành vi của người thừa hành công vụ trong chức năng thực hiện công tác quản lý của mình. Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra, quản lý giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra. Quản lý Nhà nước và thanh tra có cái chung đều là quyền lực Nhà nước tác động lên đối tượng quản lý, song xét về cơ cấu chức năng của quản lý thì thanh tra là những công cụ, phương tiện để quản lý Nhà nước.
Thanh tra mang tính quyền lực Nhà nước, là chức năng của quản lý Nhà nước, thanh tra thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan Nhà nước. Thanh tra luôn áp dụng quyền lực của Nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó. Thanh tra có tính độc lập tương đối.
Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra, đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy Nhà nước. Khái niệm về thanh tra đã được cụ thể hoá trong Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010: Thanh tra Nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. 7 Thanh tra thuế là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan thuế đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về thuế, nghĩa vụ đối với NSNN của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong các văn bản qui phạm pháp luật về thuế và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra thuế nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của NNT.
Mục đích của thanh tra thuế Hoạt động thanh tra thuế nhằm: - Phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế: Đây là mục tiêu chủ yếu, trực tiếp của hoạt động thanh tra thuế. Thanh tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành, bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Tính chất thường xuyên của hoạt động thanh tra có tác dụng phòng ngừa các vi phạm pháp luật. Nghị quyết 26-HĐBT ngày 15/02/1984 của HĐBT nêu rõ thanh tra là "nhằm mục đích phát huy mặt đúng, ngăn ngừa sửa chữa cái sai, làm cho chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh và thu hành có hiệu quả thiết thực.
- Phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật: Định hướng xã hội Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu phải tăng cường tính pháp chế, kỷ cương pháp luật trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức và trong cách thức hành xử của mỗi công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải phát hiện nhanh chóng và xử lý nghiêm minh. Hoạt động thanh tra thuế là xem xét việc thực hiện pháp luật về thuế của cơ quan, tổ chức, cá nhân, từ đó tìm ra những hành vi sai phạm, người vi phạm, đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý. Hiện nay, khi hành vi vi phạm về thuế còn diễn ra phổ biến thì phát hiện các vi phạm để xử lý là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và là mục đích quan trọng của hoạt động thanh tra thuế.
8 - Phát hiện những sơ hở, hạn chế chưa đồng bộ trong cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi bổ sung: Hoạt động thanh tra không chỉ nhằm phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, mà còn giúp cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá lại bản thân cơ chế, chính sách, các quy định của pháp luật, các quyết định quản lý của mình đã phù hợp với thực tiễn cuộc sống chưa, có khiếm khuyết, sơ hở gì dễ dẫn đến sự vi phạm để kịp thời sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục các sơ hở, khiếm khuyết đó. - Phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế: Đây là những mục đích có tính chất gián tiếp nhưng cũng không kém phần quan trọng của hoạt động thanh tra, nhất là việc “Phát huy nhân tố tích cực” qua hoạt động thanh tra. Nhân tố tích cực ở đây được hiểu là những việc làm hay, mạnh dạn thể hiện một tư duy mới, một tư cách suy nghĩ và hành động mới phù hợp với quan điểm và chủ trương đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta, nhất là trong lĩnh vực thuế. Mặt khác, thanh tra thuế không chỉ xem xét, đánh giá sự việc đúng, sai và còn phải đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của NNT.
Thông qua hoạt động thanh tra thuế cần kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tham nhũng, nhũng nhiễu gây tổn thất tài sản xã hội chủ nghĩa và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây không chỉ là yêu cầu của Nhà nước mà còn là yêu cầu của nhân dân đối với ngành thuế. Nguyên tắc thanh tra thuế Nguyên tắc thanh tra thuế là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành động mà các cơ quan quản lý, các tổ chức thanh tra, các thanh tra viên và các đối tượng thanh tra phải tuân theo trong quá trình hoạt động thanh tra. Hoạt động thanh tra thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: - Tuân thủ pháp luật: Không được làm trái pháp luật là nguyên tắc quan trọng đối với cán bộ thanh tra khi thi hành công vụ.
Việc tuân theo pháp luật được thể hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra phải đúng những quy định văn bản pháp luật, bảo đảm tính độc lập, nghiêm túc khi thực hiện những thủ tục cần thiết trong phạm vi thẩm quyền cho phép. 9 - Tuân thủ quy trình, quy phạm của hoạt động thanh tra do ngành thuế quy định: Theo nguyên tắc này, muốn tiến hành thanh tra, trước hết phải có quyết định thanh tra do người có thẩm quyền ban hành. Nội dung quyết định thanh tra phải bảo đảm tính pháp lý. Người thực hiện quyết định là Đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên được giao nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật.
Kết thúc cuộc thanh tra, Đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên phải có kết luận, kiến nghị, quyết định về nội dung đã được thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết luận, kiến nghị các quyết định đó. - Bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời: Tính chính xác đòi hỏi chủ thể thanh tra thuế phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung thanh tra, xác định, đánh giá đúng bản chất của sự việc để kết luận thanh tra được chính xác. Tính chính xác của kết quả thanh tra bảo đảm công tác thanh tra thuế đạt hiệu quả cao. Tính khách quan bảo đảm phản ánh đúng sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng, không thiên lệch và bóp méo sự thật.
Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể thanh tra thuế phải thông báo đầy đủ, công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định thanh tra đến kết luận thanh tra để các tổ chức, các nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện. Việc công khai hoạt động thanh tra thuế nhằm nâng cao tính khách quan, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình thanh tra thuế. Tuy nhiên, tuỳ tính chất cuộc thanh tra cụ thuể mà cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động thanh tra thuế. Tính dân chủ trong hoạt động thanh tra thuế tạo cơ hội cho đối tượng thanh tra được trình bày ý kiến, quan điểm về nội dung, kết luận thanh tra cũng như về hoạt động của đoàn thanh tra, tránh tình trạng áp đặt của chủ thể thanh tra, góp phần tích cực vào kết quả thanh tra.
Tính kịp thời trong hoạt động thanh tra thuế: hoạt động thanh tra thuế nhằm phục vụ các mục tiêu quản lý thuế trong những thời điểm nhất định. Thanh tra thuế kịp thời giúp cho đối tượng thanh tra nhận rõ sai phạm để khắc phục sửa chữa ngay, 10 tránh vi phạm kéo dài. Bên cạnh đó, việc thanh tra thuế kịp thời còn giúp cơ quan thuế chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế, chính sách pháp luật về thuế phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Tính kịp thời còn đảm bảo cuộc thanh tra có kết luận đúng thời hạn theo luật định, tránh tình trạng dây dưa kéo dài thời gian, gây khó khăn cho đối tượng thanh tra thuế.