Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 3. Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam Chương 4.
Quan điểm, mục tiêu, định hướng và một số giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đến năm 2030. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, do đó số lượng các công trình trong và ngoài nước liên quan đến đề tài này khá nhiều.
a) Các nghiên cứu về động lực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Yếu tố tác động đến thu hút vốn FDI được đề cập khá phổ biến trong các nghiên cứu về chủ đề này đó là đặc điểm của nước tiếp nhận vốn (bao gồm hệ thống chính trị, pháp luật, quy mô thị trường, các nguồn lực, CSHT, thủ tục hành chính…). Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: V. Lênin (2005) trong Lênin toàn tập cho rằng lợi ích của việc xuất khẩu tư bản là tìm kiếm nơi đầu tư có lợi nhất. Các tập đoàn tư bản ở nước ngoài khai thác được những điều kiện thuận lợi về tài nguyên phong phú, nhân công giá rẻ, thị trường tiêu thụ mới… từ đó thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với việc đầu tư tại chính quốc.
Do vậy, yếu tố căn cốt nhất tác động tới thu hút vốn FDI vào một quốc gia (hay địa phương) là lợi ích đầu tư (khi lợi ích tại nơi nhận đầu tư lớn hơn lợi ích thu được so với đầu tư tại chính quốc thì lượng tư bản thừa tương đối sẽ được đem đến để đầu tư tại đó thay vì đầu tư tại chính quốc). Lý luận này của V. Lênin đã nêu ra bản chất sâu xa của hoạt động đầu tư và động lực của dòng vốn FDI. Chương trình phát triển Châu Á của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP, 2003) trong Xây dựng chiến lược thu hút các nhà đầu tư cũng đề cập đến hai nhóm yếu tố thúc đẩy đầu tư: nhóm yếu tố cụ thể của doanh nghiệp/ngành nghề (khả năng tiếp cận thị trường và giảm chi phí sản xuất, khả năng tiếp cận nguồn nguyên vật liệu và tiếp cận công nghệ, chuyên môn) và nhóm yếu tố liên quan đến đặc điểm của nơi nhận đầu tư (kinh tế - chính trị ổn định, chính sách đầu tư hấp dẫn, dịch vụ và CSHT đầy đủ, mạng lưới cung cấp, dịch vụ hỗ trợ tốt, các TTHC đơn giản và bộ máy chính quyền liêm khiết).
Cũng đề cập đến lực hút đầu tư, Rajan (2004) trong nghiên cứu Measures to Attract FDI Investment Promotion, Incentives and Policy Intervention (Các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư và sự can thiệp của chính sách) đã chỉ ra các lý do đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là: (i) tìm kiếm nguồn lực (tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực con người); (ii) tìm kiếm thị trường; (iii) tìm kiếm hiệu quả đầu tư (bằng cách giảm chi phí sản xuất, chi phí lao động); (iv) tìm kiếm tài sản chiến lược ở quốc gia tiếp nhận (công nghệ mới, thương hiệu, các kênh phân phối)… Từ đó, tác giả gợi ý rằng các quốc gia cần phải dựa trên tiềm lực và lợi thế riêng của mình để thu hút vốn FDI phù hợp và hiệu quả hơn. 8 Gần với quan điểm trên của Rajan, nhóm tác giả Khachoo và Khan (2012) trong nghiên cứu Determinants of FDI inflows to developing countries: a panel data analysis (Các yếu tố ảnh hưởng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển: Phân tích bảng dữ liệu) đã nghiên cứu tác động của các yếu tố đến dòng vốn FDI của 32 nước ĐPT. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng trong khoảng thời gian từ 1982-2008, kết quả cho thấy quy mô thị trường, tổng trữ lượng, kết cấu hạ tầng và chi phí lao động là những yếu tố chính quyết định đến dòng vốn FDI vào các nước ĐPT. Nghiên cứu trong phạm vi ở một quốc gia cụ thể, Abdul và cộng sự (2014) trong nghiên cứu Factors affecting foreign direct investment in Pakistan (Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Pakistan) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua dữ liệu thu thập về dòng vốn FDI, vốn cổ phần, tổng thu nhập quốc dân, số liệu xuất khẩu, số liệu nhập khẩu, chi tiêu cho quân sự, nợ nước ngoài của Pakistan từ 1988-2012.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến thu hút FDI vào Pakistan đó là tích lũy tài sản, xuất khẩu, tổng thu nhập quốc dân. Hay, nhóm tác giả Boateng (2015) trong Examining the determinants of inward FDI: Evidence from Norway (Các yếu tố tác động đến dòng chảy FDI vào Na Uy) lại cho rằng dòng FDI chảy vào Na Uy chịu tác động trực tiếp bởi 07 nhóm yếu tố là: GDP, lạm phát, tỷ giá, dòng tiền, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, độ mở thương mại. Một số nghiên cứu trong nước cũng đề cập đến vấn đề này như Lê Tuấn Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2013) trong Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng qua khảo sát 150 doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Đà Nẵng, nghiên cứu đã cho thấy 05 nhóm yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của NĐT: (i) nhóm yếu tố về công tác quản lý và hỗ trợ của chính quyền địa phương; (ii) nhóm yếu tố về chính sách ưu đãi đầu tư của địa phương; (iii) nhóm yếu tố về chất lượng nguồn nhân lực; (iv) nhóm yếu tố về kết cấu hạ tầng; (v) nhóm yếu tố về sự hình thành và phát triển cụm ngành.
Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014) trong Nghiên cứu các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại những quốc gia đang phát triển đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, với bộ dữ liệu bảng của 30 quốc gia trong khoảng thời gian 13 năm (từ 2000 - 2012). Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu hút FDI chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: quy mô thị trường, tổng dự trữ, yếu tố cơ sở vật chất được đại diện bởi biến tiêu thụ điện có tương quan cùng chiều với FDI. Một nghiên cứu khác của Phan Thị Quốc Hương (2015) trong Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào Việt Nam đã sử dụng phương pháp ước lượng Moment tổng quát sai phân để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng nhóm yếu tố khung chính sách, động cơ tìm kiếm thị trường và tìm kiếm tài nguyên có tác động đến dòng vốn FDI vào Việt Nam.
9 b) Các nghiên cứu về thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam Hiện nay, khá nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài thu hút và sử dụng vốn FDI ở Việt Nam dưới các góc độ tiếp cận khác nhau. Về không gian nghiên cứu, các tác giả chủ yếu thực hiện ở cấp độ quốc gia (Nguyễn Thị Kim Nhã, 2005; Nguyễn Thị Liên Hoa, 2000; Nguyễn Thị Ái Liên, 2011; Nguyễn Quỳnh Thơ, 2017…), hoặc địa phương (Nguyễn Tiến Long, 2011; Lâm Quang Minh, 2006; Đặng Thành Cương, 2012; Ngô Trung Hùng, 2013; Đặng Vinh, 2018) …, hay trong phạm vi vùng (Bùi Thúy Vân, 2011; Phạm Đức Minh, 2013; Nguyễn Ngọc Anh, 2014; Nguyễn Thị Thanh Mai, 2016; Vũ Việt Ninh, 2018…). Một số tác giả khác nghiên cứu về thu hút vốn FDI từ một quốc gia cụ thể vào Việt Nam như: Đinh Thành Trung (2009), Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản vào Việt Nam; Trần Anh Phương (2004), Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp của các nước trong nhóm G7 vào Việt Nam… Về đối tượng nghiên cứu, một số tác giả tập trung vào hoạt động thu hút vốn FDI trong một ngành, lĩnh vực cụ thể, tiêu biểu như: Vũ Việt Ninh (2018) trong luận án tiến sĩ Tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng; Nguyễn Thị Mai Hương (2017) trong bài báo Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp Việt Nam: thực trạng và giải pháp…. Các tác giả trên đã tập trung làm nổi bật bức tranh thu hút vốn FDI của Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, đưa ra các đề xuất nhằm thu hút vốn FDI phù hợp với mục tiêu thu hút vốn ở các phạm vi không gian và trong mỗi giai đoạn khác nhau.
Nhìn chung, hầu hết các kết quả nghiên cứu đều có sự thống nhất rằng thu hút vốn FDI ở Việt Nam có sự tăng trưởng vượt bậc qua các năm về mặt số lượng và cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc thu hút FDI đến TTKT ở cả cấp độ quốc gia và địa phương. Trong đó, một công trình khá tiêu biểu về thu hút vốn FDI của Việt Nam gần đây là luận án tiến sĩ Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Quỳnh Thơ (2017). Tác giả đã đưa ra hai mục tiêu cơ bản của thu hút vốn FDI: (i) thay đổi định hướng thu hút vốn FDI, không thu hút vốn FDI tràn lan mà cần có sự sàng lọc các dự án FDI ở các ngành chiến lược, của các đối tác chiến lược và (ii) nâng cao nội lực hấp thụ của nền kinh tế để làm cơ sở mở rộng ngưỡng. Trên cơ sở các mục tiêu này, tác giả đã đề xuất sáu giải pháp và phân tích trên khía cạnh sự cần thiết và các biện pháp thực thi cụ thể, đó là: (i) hoàn thiện và thực thi hệ thống chính sách FDI nâng cao; (ii) đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp trong và ngoài nước; (iii) xây dựng quy hoạch ngành, vùng kinh tế; (iv) hoàn thiện và thực thi chính sách hạn chế tác động tiêu cực của FDI; (v) hoàn thiện cơ chế quản lý và phân cấp FDI; (vi) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.