Luận văn về thực trạng và giải pháp thu hút FDI ở Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp thực hiện chính sách thu hút fdi ở việt nam thực trạng và giải pháp, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

88
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THU HÚT FDI

1.1. Khái niệm và đặc điểm FDI

1.1.1. Khái niệm FDI

1.1.2. Các đặc điểm chính của FDI

1.2. Những nhân tố thúc đẩy FDI

1.2.1. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước

1.2.2. Chu kỳ sản phẩm

1.2.3. Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia

1.2.4. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại

1.2.5. Khai thác chuyên gia và công nghệ

1.2.6. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.3. Những tác động của FDI

1.3.1. Đối với nước đầu tư

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI Ở VIỆT NAM

2.1. Tình hình thu hút nguồn vốn FDI ở Việt Nam

2.1.1. FDI ở Việt Nam được cấp giấy phép thời kỳ 1991-2020

2.1.2. Tổng vốn đăng kí FDI ở Việt Nam được cấp giấy phép phân theo đối tác đầu tư chính

2.1.3. FDI vào Việt Nam phân theo ngành kinh tế

2.1.4. FDI ở Việt Nam được cấp giấy phép phân theo địa phương

2.2. Thực hiện chính sách thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian qua

2.2.1. Giai đoạn áp dụng Luật Đầu tư nước ngoài (1987-2005)

2.2.2. Giai đoạn áp dụng Luật Đầu tư chung (2005-2018)

2.2.3. Giai đoạn sau khi áp dụng nghị quyết 50-NQ/TW (2018-nay)

2.2.4. Yếu tố cải thiện môi trường đầu tư theo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) trong thu hút FDI

2.2.4.1. Giới thiệu chung về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
2.2.4.2. Hiệu quả cải thiện môi trường đầu tư theo PCI đối với thu hút FDI

2.2.5. Đánh giá về khả năng thu hút nguồn vốn FDI ở Việt Nam hiện nay

2.2.6. Hạn chế, điểm yếu

2.2.7. Nguyên nhân chủ yếu

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT FDI Ở VIỆT NAM

3.1. Làn sóng dịch chuyển FDI hướng đến Việt Nam hậu Covid 19

3.1.1. Bối cảnh quốc tế

3.1.2. Làn sóng chuyển dịch FDI về Việt Nam

3.2. Giải pháp chính sách thu hút FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thực trạng FDI tại Việt Nam

Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn cho FDI trong những năm qua. Từ năm 1991 đến 2020, tổng vốn đăng ký FDI vào Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, với nhiều dự án lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thực trạng FDI hiện nay vẫn còn nhiều thách thức. Các nhà đầu tư thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và thủ tục hành chính phức tạp. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mặc dù có nhiều chính sách ưu đãi, nhưng chất lượng FDI vẫn chưa đạt yêu cầu cao. Các lĩnh vực thu hút FDI chủ yếu vẫn là sản xuất và chế biến, trong khi các lĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy cần có sự cải cách mạnh mẽ trong chính sách thu hút FDI để nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư.

1.1. Tình hình thu hút FDI

Tình hình thu hút FDI tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tổng vốn đăng ký FDI vào Việt Nam trong giai đoạn 1991-2020 đạt khoảng 400 tỷ USD. Tuy nhiên, sự phân bổ FDI giữa các ngành và địa phương còn không đồng đều. Các tỉnh thành lớn như TP.HCM và Hà Nội thu hút phần lớn FDI, trong khi các khu vực khác vẫn chưa phát huy hết tiềm năng. Điều này dẫn đến sự chênh lệch trong phát triển kinh tế giữa các vùng miền. Để khắc phục tình trạng này, cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào các khu vực còn yếu kém, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư để thu hút FDI chất lượng hơn.

1.2. Đánh giá về khả năng thu hút FDI

Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong việc cải thiện môi trường đầu tư. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong thực trạng FDI. Các nhà đầu tư nước ngoài thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và thủ tục hành chính phức tạp. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực. Điều này ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài. Để nâng cao khả năng thu hút FDI, cần có sự cải cách mạnh mẽ trong chính sách và cải thiện môi trường đầu tư, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.

II. Giải pháp thu hút FDI tại Việt Nam

Để tăng cường thu hút FDI, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đầu tiên, cần cải cách mạnh mẽ chính sách thu hút FDI để tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Các chính sách ưu đãi cần được thiết kế linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư. Thứ hai, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Việc đào tạo và phát triển kỹ năng cho lao động là rất cần thiết để thu hút FDI chất lượng cao. Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế và xúc tiến đầu tư để mở rộng mạng lưới kết nối với các nhà đầu tư tiềm năng.

2.1. Cải cách chính sách thu hút FDI

Cải cách chính sách thu hút FDI là một trong những giải pháp quan trọng nhất. Việt Nam cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Các chính sách ưu đãi cần được áp dụng đồng bộ và công khai, giúp các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận thông tin. Đồng thời, cần có các chương trình xúc tiến đầu tư hiệu quả để quảng bá hình ảnh Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn cho FDI. Việc cải cách này không chỉ giúp thu hút FDI mà còn nâng cao chất lượng đầu tư, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

2.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trong việc thu hút FDI. Việt Nam cần đầu tư vào giáo dục và đào tạo để cung cấp cho thị trường lao động những kỹ năng cần thiết. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ. Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 của khóa luận trình bày một số cơ sở lý luận chung về FDI (khái niệm, phân loại, đặc điểm…) và kinh nghiệm quốc tế của một số nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore. Để qua đó làm cơ sở nghiên cứu cho chương 2 về chính sách, thực trạng triển khai chính sách thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian mở cửa đến nay. Khái niệm và đặc điểm FDI 1. Khái niệm FDI Trên thế giới hiện nay có rất nhiều cách diễn giải về khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI), mỗi ý kiến lại tiếp nhận FDI theo một góc độ, góc nhìn nhất định: Định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993) được chấp nhận rộng rãi nhất: “FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài của doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của nền kinh tế khác với nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là dành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.

Ở đây, định nghĩa này nhấn mạnh vào hai yếu tố: lợi ích lâu dài và quyền quản lý doanh nghiệp. Lợi ích lâu dài: bất kể doanh nghiệp FDI nào đều có mục tiêu dài hạn, để mục tiêu dài hạn này đạt hiệu quả đòi hỏi phải có mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư đồng thời có mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp. Quyền quản lý doanh nghiệp: là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng có khả năng ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp (chiến lược phát triển, kế hoạch hành động, chia lợi nhuận, phần vốn góp…). Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với 4 Luan van quyền quản lý tài sản đó”.

Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED): “Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn trên 5 năm”. Theo quan điểm của Hoa Kỳ - một trong những nước tiến hành đầu tư và tiếp nhận đầu tư lớn nhất thế giới cho rằng “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài”. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau “FDI là việc nhà đầu tư ở một quốc gia đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để có quyền sở hữu và quyền quản lý hoặc kiểm soát trực tiếp một thực thể kinh tế tại quốc gia khác với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình”.

Tài sản được nhắc tới ở đây có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, quy trình công nghệ, bất động sản,.) và tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết, kinh nghiệm quản lý,…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ,…). Như vậy, FDI luôn là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài. Các đặc điểm chính của FDI Các đặc điểm cơ bản của FDI bao gồm: (i) Mục đích đầu tư hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận thu về cho nhà đầu tư. Khi tiến hành thu hút FDI, các nước nhận đầu tư đặc biệt là các nước đang phát triển cần lưu ý đến đặc điểm này.

(ii) Các nhà đầu tư phải đóng góp đủ số vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của từng nước để có thể kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. (iii) Các nước được nhận đầu tư phải có hành lang pháp lý để thu hút đầu tư từ đó tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế, xã hội, tránh trường hợp FDI chỉ phục vụ cho mục đích của nhà đầu tư. 5 Luan van (iv) Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. (v) Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức.

(vi) Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ/lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. (vii) FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý.

Những nhân tố thúc đẩy FDI a. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus (1960) cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn, còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn.

Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Đây mới là bản chất tìm kiếm lợi nhuận của FDI vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp. Chu kỳ sản phẩm Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đọan sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.

Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản 6 Luan van địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.

Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn. Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia Stephen H.

(1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia (MNCs) có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Dễ nhận thấy rằng những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng… d. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương.

Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Để đối phó với vấn đề này, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.

Khai thác chuyên gia và công nghệ Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại cũng có thể diễn ra mạnh mẽ. Trung Quốc, Nhật 7 Luan van Bản là hai nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú.

Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự. Những tác động của FDI a.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn về thực trạng và giải pháp thu hút FDI ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hảo, dưới sự hướng dẫn của TS. Lưu Minh Đức tại Học viện Chính sách và Phát triển, năm 2021, tập trung vào việc phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Bài luận văn không chỉ nêu rõ những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc thu hút FDI mà còn chỉ ra những thách thức và hạn chế hiện tại. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính cạnh tranh và thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn FDI, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý đầu tư và phát triển kinh tế, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu tác động của FDI đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, nơi phân tích ảnh hưởng của FDI đến khả năng đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp. Bài viết Nghiên Cứu Nhân Tố Hấp Dẫn Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Từ Các Nước Đông Bắc Á Vào Việt Nam cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố thu hút FDI từ khu vực Đông Bắc Á. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ về quan hệ lợi ích trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển công nghiệp ở Thái Nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa lợi ích và thu hút FDI trong bối cảnh phát triển công nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề FDI và các yếu tố liên quan đến phát triển kinh tế tại Việt Nam.