CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ SỨC CẠNH TRANH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái.1 Tỷ giá danh nghĩa (Nominal exchange rate). Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá mà chúng ta quan sát được hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời được các NHTM niêm yết công khai trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. Như vậy, về thực chất, tỷ giá danh nghĩa là giá cả của đồng tiền này được biểu thị thông qua đồng tiền khác. Ví dụ: Theo báo SGGP ngày 26/01/2011 thì 1USD = 18.932VND, ở đây 1USD có giá là 18.
Tỷ giá này được gọi là tỷ giá danh nghĩa bởi vì nó chưa đề cập đến tương quan sức mua (yếu tố thực) giữa USD và VND, cụ thể là chúng ta chưa biết rõ là 1USD mua được bao nhiêu hàng hoá ở Mỹ và 18.932 đồng mua được bao nhiêu hàng hoá ở VN. Có thể 1USD mua được hàng hoá ở Mỹ là bằng, ít hơn hay nhiều hơn so với 18.932VND mua ở Việt Nam. Trên thị trường hàng hoá, giá của hàng hoá này có thể tăng, còn giá của hàng hoá kia lại giảm, vậy làm thế nào để biết được mặt bằng giá của tất cả các hàng hoá là tăng hay giảm? Đối với hàng hoá, người ta dùng phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI), còn đối với tỷ giá người ta dùng phương pháp tính tỷ giá danh nghĩa trung bình (NEER – Nominal Effective Exchange Rate). Như vậy, về ý nghĩa và phương pháp tính NEER và CPI là giống nhau.
Về mặt thuật ngữ, NEER còn được gọi khác như tỷ giá danh nghĩa đa phương hay đa biên. Để hiểu nội dung của NEER ta so sánh cách tính NEER với cách tính CPI qua ví dụ mô phỏng sau đây: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: So sánh cách tính NEER và cách tính CPI. Hàng hóa thông thường Hàng hóa đặc biệt (Ngọai tệ) Mặt Mức giá Mức giá Tỷ trọng Ngọai tệ Tỷ giá Tỷ giá Tỷ trọng hàng tại t0 tại t1 hàng (hàng tại t0 tại t1 ngọai tệ hóa hóa) h1 p1 p’1 w1 c1 e1 e’1 u1 h2 p2 p’2 w2 c2 e2 e’2 u2 h3 p3 p’3 w3 c3 e3 e’3 u3 h4 p4 p’4 w4 c4 e4 e’4 u4 p '1.u4 Đối với NEER, tỷ trọng ngoại tệ được xác định trên cơ sở tỷ trọng thương mại giữa VN với các nước bạn hàng. Cũng tương tự như CPI, trên thực tế có rất nhiều ngoại tệ, cho nên ta không đưa tất cả ngoại tệ vào để tính NEER mà chỉ chọn những ngoại tệ nào mà VN có tỷ trọng thương mại ý nghĩa.
Thực chất NEER không phải là tỷ giá mà chỉ là dạng chỉ số. Nếu NEER tăng thì VND được coi là giảm giá so với các đồng tiền còn lại; ngược lại nếu NEER giảm thì VND được coi là lên giá so với các đồng tiền còn lại. Cho dù NEER có ý nghĩa hơn rất nhiều so với tỷ giá song phương, nhưng về bản chất NEER vẫn là tỷ giá danh nghĩa, cho nên khi NEER thay đổi ta vẫn chưa biết được chính xác tác động của nó đến nền kinh tế (cụ thể là hoạt động XNK) là như thế nào. Chính vì vậy, trong phân tích tác động của tỷ giá đến hoạt động XNK, người ta phải dùng đến khái niệm tỷ giá thực.2 Tỷ giá thực song phương (Real exchange rate).P * Tỷ giá thực song phương dạng đơn giản được biểu diễn: Er P Trong đó, Er là tỷ giá thực; E là tỷ giá danh nghĩa bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ; P* là giá cả hàng hoá ở nước ngoài tính bằng ngoại tệ; P là giá cả hàng hoá trong nước tính bằng nội tệ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Với các định nghĩa này, cho thấy tỷ giá thực không phải là tỷ giá đích thực mà là dạng chỉ số. Do tử số của công thức trên biểu diễn giá hàng hoá ở nước ngoài quy thành nội tệ, nên về bản chất tỷ giá thực thể hiện sự so sánh mức giá hàng hoá ở trong nước và ở nước ngoài khi cả hai đều tính bằng nội tệ. Nếu Er>1 tức là E.P *>P thì nội tệ được xem là định giá thực thấp sẽ tạo nên vị thế cạnh tranh thương mại tốt hơn so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu được nhiều hơn, còn nhập nhập thì ít hơn. Nếu Er<1 tức là E.P*<P thì nội tệ được xem là định giá thực cao sẽ tạo nên vị thế cạnh tranh thương mại kém hơn so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu thì ít, còn nhập khẩu thì nhiều.
Nếu Er=1 tức là E.P*=P thì ta nói rằng hai đồng tiền là ngang giá sức mua, nghĩa là khi chuyển đổi mỗi nội tệ ra ngoại tệ ta mua được số hàng hoá là như nhau ở trong nước và ở nước ngoài. Để quan sát được sự biến động của tỷ giá thực người ta phải sử dụng công CPI * thức dạng tương đối như sau: er e CPI Trong đó, er là chỉ số tỷ giá thực; e là chỉ số tỷ giá danh nghĩa; CPI* là chỉ số giá tiêu dùng ở nước ngoài; CPI là chỉ số giá trong nước. Nếu từ thời điểm này sang thời điểm khác, chỉ số tỷ giá thực (er) tăng, ta nói rằng nội tệ là giảm giá thực, nghĩa là bây giờ chuyển đổi mỗi nội tệ ra ngoại tệ ta chỉ mua được ít hàng hoá hơn ở nước ngoài. Ngược lại, ta nói rằng nội tệ lên giá thực, nghĩa là bây giờ chuyển đổi mỗi nội tệ ra ngoại tệ sẽ mua được nhiều hàng hoá hơn ở nước ngoài.
Đồng tiền lên giá thực sẽ làm giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này; ngược lại, đồng tiền giảm giá thực sẽ giúp cải thiện sức cạnh tranh thương mại quốc tế.3 Tỷ giá thực hiệu lực đa phương (Real effective exchange rate – REER). Vì tỷ giá thực song phương mới chỉ phản ánh tương quan cạnh tranh thương mại giữa hai nước. Một câu hỏi đặt ra là, làm thế nào để biết được vị thế cạnh tranh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thương mại quốc tế của một nước với tất cả các nước còn lại là như thế nào. Trong thực tế người ta dùng đến khái niệm tỷ giá thực hiệu lực đa phương (REER).
CPI ti i Công thức như sau: REER Wt * * Ei CPI tVN e ti Ei *100% e bi a s e Trong đó: i ebase : Tỷ giá VND và đồng tiền nước i năm cơ sở (1 ngoại tệ = bao nhiêu đồng VN) eti : Tỷ giá VND và đồng tiền nước i năm t (1 ngoại tệ = bao nhiêu đồng VN) *: Phép tính nhân CPI ti : chỉ số giá cả của đối tác thương mại i năm t. CPItVN : chỉ số giá của VN năm t. Wt i : tỷ trọng thương mại của đối tác thương mại i năm t. Ta thấy REER là mức độ biến thiên giá trị thực của đồng nội tệ so với năm cơ sở, đồng thời là tỷ giá mục tiêu cho năm (t) nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh như là năm gốc, chỉ số này được tính dựa theo: - Một năm cơ sở.
- Chỉ số tỷ giá danh nghĩa. - Chỉ số giá cả theo CPI. - Tỷ trọng thương mại của các đối tác thương mại. Về ý nghĩa của REER là tương tự như Er.
Tuy nhiên, REER có ý nghĩa hơn ở chỗ nó là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một nước so với tất cả các nước bạn hàng nói chung. Do có ý nghĩa như vậy nên hiện nay hầu hết các nước phát triển đều tính toán và công bố chỉ tiêu này. Nếu REER>1, thì nội tệ được xem là định giá thực thấp và ngọai tệ được coi là định giá thực quá cao và nó sẽ giúp cải thiện sức cạnh tranh thương mại quốc tế, vì nếu chuyển một đồng ngọai tệ sang nội tệ sẽ mua được nhiều hàng hóa trong nước hơn so với nước ngòai. Chính điều này sẽ kích thích xuất khẩu gia tăng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nếu REER<1, thì nội tệ được xem là định giá thực quá cao và ngọai tệ được coi là định giá thực quá thấp, sẽ có tác động xấu đến cán cân xuất nhập khẩu. Nếu REER=1, thì sức mua đối nội và sức mua đối ngoại của đồng tiền là như nhau, tức là ngang giá sức mua. Do đó, tác động làm cho cán cân xuất nhập khẩu cân bằng.2 Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tỷ giá hối đoái.1 Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái. Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ (mà đại diện là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.
Như vậy, để duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết, thì cần phải có một chế độ tỷ giá và một hệ thống các công cụ can thiệp thích hợp.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái. Vì là một bộ phận của chính sách tiền tệ, nên mục tiêu của chính sách tỷ giá theo nghĩa rộng cũng phải phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ. Tuỳ theo mỗi quốc gia, mà mục tiêu chính sách tiền tệ có thể khác nhau, cụ thể là: - Ổn định giá cả. - Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ.
- Cân bằng cán cân vãng lai.1 Về mục tiêu ổn định giá cả: Với các yếu tố khác không đổi, khi phá giá nội tệ (tức tỷ giá tăng), làm cho giá hàng hoá nhập khẩu (bao gồm hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cho sản xuất trong nước) tính bằng nội tệ tăng. Giá hàng hoá nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, tức gây lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng nhập khẩu càng lớn thì tỷ lệ lạm phát càng cao. Điều này được thể hiện qua công thức: P1 = a.P * Trong đó: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 a – là tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước.
(1-a) – là tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu. P – là mức giá cả hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ. P* - là mức giá cả hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ.