CHƯƠNG I LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC 1. Một số khái niệm sự hài lòng của người lao động đối với công việc Theo Kusku (2003) cho rằng sự hài lòng phản ảnh mức độ mà những nhu cầu và mong muốn của cá nhân được đáp ứng và cảm nhận được sự đánh giá bởi những nhân viên khác. Theo Staples và Higgins (1998) sự hài lòng của nhân viên nhìn chung được cảm nhận thông qua phạm vi của công việc và tất cả những thái độ tích cực đối với môi trường làm việc.
* Mức độ hài lòng chung trong công việc Theo Spector (1997) sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ [1,7]. Theo Kreitner và Kinicki (2007) sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình [1,7],.
Theo Ellickson và Logsdon (2001), thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ hài lòng công việc càng cao [1,7]. Quinn và Staines (1979), thì cho rằng “Hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc [22]”. Nói tóm lại sự hài lòng của người lao động là đáp ứng nhu cầu và mong muốn của con người trong môi trường làm việc.
Khi những nhu cầu và mong muốn được đáp ứng thích đáng thì sự hài lòng của người lao động sẽ tăng lên, điều này tác động tích cực đến chuỗi lợi nhuận dịch vụ. * Mức độ hài lòng với các thành phần công việc Theo Smith, Kendal và Hulin (1969), mức độ hài lòng với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của người lao động về các khía cạnh khác nhau trong công việc ( bản chất công việc; cơ hội đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp; tiền lương) của họ [23]. Như vậy, theo tác giả sự hài lòng đối với công việc của NLĐ là nhu cầu và mong muốn của NLĐ trong môi trường công việc, nó được thể hiện qua thái độ,cảm nhận và hành vi đối với công việc và các thành phần công việc. Các thành phần của hài lòng trong công việc Theo Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) các thành phần của sự hài lòng công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức.
Theo cách tiếp cận của Foreman Facts (Viện quan hệ lao động NewYork, 1946), sự hài lòng của nhân viên bao gồm sự hài lòng về 10 yếu tố: Kỷ luật khéo léo, sự đồng cảm với các vấn đề cá nhân người lao động, công việc thú vị, được 7 tương tác và chia sẻ trong công việc, an toàn lao động, điều kiện làm việc, lương, được đánh giá đầy đủ các công việc đã thực hiện, trung thành cá nhân đối với cấp trên, thăng tiến và phát triển nghề nghiệp. Mô hình 10 yếu tố này cũng được Kovach (1980,1994), Bob Nelson, Blanchard Training & Development (1991), Silverthorne (1992), Sheryl & Don Grimme GHR Training Solutions (1997-2001), Cynthia D. Fisher &Anne Xue Ya Yuan (1998) sử dụng để nghiên cứu trên nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Nga, Mỹ [6,9]. Tại Việt Nam, Nguyễn Vũ Duy Nhất (2009) cũng đã sử dụng thang đo 10 yếu tố này khi đo lường mức độ hài lòng của nhân viên trong ngành dịch vụ Viễn thông.
Thang đo mức độ hài lòng với các thành phần của công việc khá nổi tiếng trên thế giới là Chỉ số mô tả công việc (Job Discriptive Index-JDI) của Smith và các đồng nghiệp (1969), nó đã được sử dụng trong hơn 1.000 nghiên cứu ở các tổ chức trong nhiều lĩnh vực khác nhau, 5 khía cạnh của thang đo JDI là: Bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương. (theo Job Discriptive Index-JDI, HP Management, www. Sau đó Crossman và Bassem (2003) đã bổ sung thêm hai thành phần nữa đó là phúc lợi, và môi trường làm việc. Hai yếu tố này cũng đã được tác giả Trần Kim Dung (2005) áp dụng khi nghiên cứu sự hài lòng của người lao động ở Việt Nam [9].
Ngoài ra một số thành phần của thang đo cũng được một số tác giả khác ở Việt Nam sử dụng và bổ sung để nghiên cứu trong các doanh nghiệp như: Vũ Khắc Đạt (2009) đo lường mức độ hài lòng của nhân viên văn phòng khu vực miền Nam Vietnam Airlines đã sử dụng thang đo gồm các thành phần: bản chất công việc, đào tạo phát triển, đánh giá, đãi ngộ, môi trường tác nghiệp, lãnh đạo [11]; Trần Đức Duy (2009) khi khảo sát mức độ hài lòng của nhân viên tại công ty Scavi đã sử dụng thang đo gồm 3 yếu tố: tiền lương, môi trường làm việc và lãnh đạo [10]. Nguyễn Trần Thanh Bình (2009) khi đo lường mức độ hài lòng của người lao động tại công ty cổ phần cơ khí chế tạo máy Long An tác giả đã sử dụng thang đo gồm 6 thành phần: bản chất công việc, tiền lương, môi trường làm việc, lãnh đạo, đồng nghiệp, cơ hội đào tạo thăng tiến [7]; Phạm Đức Thống (2006) khi đánh giá mức độ hài lòng của 8 người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quận 8-Thành phố Hồ Chí Minh gồm các thành phần: Cơ hội đào tạo, mối quan hệ cấp trên-cấp dưới, lương & thu nhập, đồng nghiệp, lãnh đạo, niềm tin, cơ hội thăng tiến. Như vậy trên cơ sở các thành phần trong công việc của JDI, các tác giả đã điều chỉnh, bổ sung thêm một số thành phần khác liên quan đến công việc khi nghiên cứu để phù hợp với điều kiện, đặc điểm công việc của từng doanh nghiệp, từng khu vực và từng nước khác nhau ở những giai đoạn khác nhau. Ngoài ra, một số nghiên cứu của các tác giả trên cũng đã cho thấy sự hài lòng của người lao động trong công việc có sự khác biệt do các yếu tố thuộc cá nhân như: giới tính, độ tuổi, thu nhập, trình độ chuyên môn, thâm niên, chức vụ.
Nhìn chung thì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của người lao động nhưng đều được phân chia thành hai yếu tố cơ bản sau: sự hài lòng về các yếu tố tinh thần và sự hài lòng về các yếu tố vật chất. Các yếu tố về vật chất Để đo lường đến sự hài lòng của người lao động đối với công việc thì trước hết chúng ta phải nói đến các yếu tố về vật chất hay còn gọi là các chính sách khuyến khích về mặt kinh tế. Mỗi một con người thì vấn đề đầu tiên cần thiết khi đi làm là phải đảm bảo được thu nhập lo cho bản thân và gia đình, phân phối thu nhập phải hợp lý và đảm bảo được sự công bằng giữa các nhân viên với nhau. Khi phân phối thu nhập được gọi là công bằng dựa trên nhu cầu của công việc, cấp độ kỹ năng của cá nhân, và những tiêu chuẩn phân phối trong cộng đồng…thì kết quả tạo ra là sự thõa mãn.
Khi thu nhập không công bằng nhân viên sẽ tự tính ra một hệ số gọi là hệ số công bằng trong thu nhập. Tử số là toàn bộ thu nhập, kể cả thưởng và chế độ ưu đãi. Mẫu số là hiệu quả công việc cộng với khả năng làm việc gồm: kiến thức, khả năng, kinh nghiệm và mức độ đóng góp của họ cho công ty. Khi nhân viên cảm nhận hệ số này của họ nhỏ hơn một hay nhiều đồng nghiệp khác họ sẽ cảm thấy khó chịu và không hài lòng với lãnh đạo.
Trong các yếu tố về vật chất chúng ta phải xây dựng được một chính sách lương, thưởng, phụ cấp hợp lý và tạo điều kiện làm việc về mặt trang thiết bị, an 9 toàn lao động… để có thể khuyến khích người lao động làm việc và cống hiến cho công ty một cách tốt nhất. Nói đến các yếu tố về vật chất thì chúng ta đề cập đến ba yếu tố cấu thành nên tổng thu nhập của người lao động đó là: chính sách lương, chính sách thưởng và các chính sách về phúc lợi. - Chính sách lương: Đây là một chính sách quan trọng trong các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động. Thu nhập từ lương là phần thu nhập chiếm tỷ trọng khá lớn và là phần thu nhập cơ bản mà doanh nghiệp trả cho người lao động.
Chính vì vậy chính sách về lương bổng là một chính sách rất quan trọng trong doanh nghiệp, chiến lược kích thích, động viên người lao động nhằm duy trì, cũng cố và phát triển lực lượng lao động mãi mãi làm việc với tổ chức. Do đó phải xây dựng được một hệ thống trả lương linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế đồng thời chính sách này phải khuyến khích, động viên người lao động phấn đấu làm việc và gắn bó với công ty lâu dài. Khi xây dựng chính sách lương chúng ta cũng cần phải lưu ý đến yếu tố công bằng trong phân phối thu nhập (chi trả lương), không phải cứ trả một mức lương cao là đủ mà mức lương đó phải công bằng giữa các nhân viên và tương xứng với công sức mà người lao động cống hiến cho doanh nghiệp [14]. Hiện nay, khi xây dựng hệ thống tính lương nhiều doanh nghiệp đã áp dụng rất nhiều cách trả lương phù hợp và đảm bảo cho người lao động cũng như nâng cao sự hài lòng cũng như lòng trung thành của cán bộ nhân viên như: trả lương theo doanh thu, trả lương khoán sản phẩm…Tuy nhiên cần phải xây dựng chính sách lương như thế nào cho phù hợp thì phải căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp chứ không nên áp dụng một cách rập khuôn, máy móc do không có một chính sách lương nào là phù hợp cho mọi doanh nghiệp.
Có công ty áp dụng chế độ khoán theo sản phẩm thì năng suất lao động cao, giá thành hạ.