CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 Những vấn đề cơ bản về hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm, đặc điểm hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể: Hộ kinh doanh cá thể là do một cá nhân, là công dân Việt Nam, hoặc một nhóm người, hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được đăng kí kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh cá thể là mô hình quản lí đơn giản, gọn nhẹ, sử dụng ít lao động, được phân bổ rộng rãi trong tầng lớp dân cư. Về thời gian của hộ kinh doanh cá thể là đa thời gian, điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân trên địa bàn và có cầu ắt có cung, nhất là nhu cầu về ăn uống, dịch vụ, thương mại.2 Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể: Từ khái niêm trên ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của kinh tế cá thể như sau: Đây là loại hình kinh tế mà tư liệu sản xuất và phương thức sản xuất thường gắn liền với sở hữu tư nhân. Người chủ kinh doanh tự quyết định từ quy trình sản xuất kinh doanh tới phân phối tiêu thụ sản phẩm.
Do đó hoạt động kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm nguồn lực, vốn, sức lao động, tự lo về phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Sự phát triển hay suy giảm của loại hình kinh tế cá thể thường mang tính tự phát, không ổn định bởi đây là loại hình kinh tế rất nhạy bén với sự thay đổi của thị trường, mọi quyết định đầu tư thường không phụ thuộc vào bất kỳ một yếu tố nào. Tuy nhiên điều này cũng bộc lộ nhiều hạn chế gây lôn xộn SV: Phan Thùy Dương 8 Lớp: CQ50/02.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính cho thị trường như kinh doanh trái phép, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế nhằm thu lợi nhuận cao. Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền kinh tế, thì thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền kinh tế, thì thành phần kinh tế HKD nói riêng và thành phần kinh tế NQD nói chung, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng phát triển và chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân.
HKD là hình thức kinh tế thu hút một lực lượng lao động lớn mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết. Kinh tế HKD đã tận dụng được lực lượng dồi dào, nhất là lao động có tay nghề cao, đồng thời giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư. Phương pháp kinh doanh của HKD cũng rất phong phú và đa dạng, thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia, do đó trình độ chuyên môn, tay nghề của họ cũng rất đa dạng. Khu vực kinh tế HKD không những chiếm một khối lượng sản phẩm tương đối trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thu NSNN.
Thực tế, trong những năm gần đây số thuế thu được từ kinh tế HKD có tỷ trọng theo xu hướng tăng lên trong tổng thu NSNN. Tuy nhiên, có thể nói với số lượng đông đảo, phức tạp cả về loại hình kinh doanh và đối tượng tham gia, hơn nữa việc kinh doanh mang tính tự phát rất cao, các đối tượng tham gia cũng không có hiểu biết nhiều về pháp luật nên quản lý các hộ rất khó khăn và phức tạp. Vai trò của hộ kinh doanh cá thể Đảng ta đã khẳng định: “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh…” SV: Phan Thùy Dương 9 Lớp: CQ50/02.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Trong nền kinh tế của chúng ta hiện nay, kinh tế cá thể chiếm một vai trò hết sức quan trọng, điều đó được thể hiện trong các nội dung sau: Kinh tế cá thể góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội: Kinh tế cá thể góp phần vào việc thúc đẩy lưu thông hàng hoá, bởi HKD cá thể phân bố rộng khắp trên mọi địa bàn từ thành thị đến nông thôn, từ đất liền đến hải đảo, từ miền đồng bằng đến miền núi. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của HKD cá thể thường là khâu cuối cùng trong quá trình phân phối hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng.
Bên cạnh đó kinh tế cá thể còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế tạo sự cạnh tranh và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Kinh tế cá thể huy động được lượng vốn nhàn rỗi trong dân góp phần tạo thêm của cải, xây dựng và phát triển đất nước: Kinh tế cá thể nắm giữ một khối lượng vốn lớn trong nền kinh tế và có khả năng huy động được nhiều vốn. Lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vẫn còn rất nhiều và chưa được sử dụng hiệu quả. Nếu lượng vốn này được tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả KT-XH tăng lên, thúc đẩy mở rộng sản xuất, kích thích tiêu dùng.
Từ đó thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Ngược lại, khi những thành phần kinh tế khác thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh thì lượng vốn này có thể sử dụng để cho vay. Thúc đẩy phát triển KT-XH các khu vực kém phát triển: Hình thức HKD cá thể rất linh động, có thể len lỏi tới hầu hết tất cả các khu vực trong cả nước mà các hình thức khác khó có thể làm được, góp phần đem hàng hoá từ các khu vực đó bán ra thị trường tiêu thụ. Điều này làm thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu dùng phát triển KT-XH.
SV: Phan Thùy Dương 10 Lớp: CQ50/02.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1. Thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể 1. Khái niệm, đặc điểm thuế GT 1.1Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa và được cung cấp dịch vụ. Đây là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.2Đặc điểm thuế GTGT * Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa được tiêu dùng, dịch vụ được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam mà cụ thể là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ đó.
Điều kiện để hàng hóa dịch vụ là đối tượng chịu thuế của thuế GTGT: - Phải là hàng hóa, dịch vụ hợp pháp và được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam. - Các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ sản xuất đến tiêu dùng phải là những giao dịch hợp pháp. * Thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm trong các khâu của quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng. * Thuế GTGT phát sinh nhiều lần, xuất hiện ở mỗi khâu của quá trình kinh doanh từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, người tiêu dùng là người phải trả tiền thuế cho tất cả các khâu trước đó.
* Thuế GTGT có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu như tất cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường. * Xét về mặt tính chất thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu, tiền thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng là SV: Phan Thùy Dương 11 Lớp: CQ50/02.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính người cuối cùng chịu thuế, người nộp thuế chỉ là người thay thế người tiêu dùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước.Vai trò thuế GTGT Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả nhà nước, do đó thuế GTGT có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau: + Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước. + Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính tuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ.
+ Thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa. Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế. + Thuế GTGT đã làm tăng cường vai trò kiểm soát của Nhà nước. Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuả người nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao.
+Thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp SV: Phan Thùy Dương 12 Lớp: CQ50/02.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.