Chương 1 THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG TĂNG CƯỜNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Một số vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng. Khái niện, đặc điểm và tác dụng của thuế giá trị gia tăng. * Khái niệm về thuế giá trị gia tăng: Thuế giá trị gia tăng là một sắc thuế mới trong hệ thống thuế Việt Nam.
Người đầu tiên đề xuất ra loại thuế này là một người Đức tên là Carlp RilordrichSienvens vào năm 1918 nhưng không được Chính Phủ Đức duyệt. Phải đến năm 1954, Pháp là nước đầu tiên áp dụng nhưng ở phạm vi hẹp ( ở khâu sản xuất ) và đến năm 1968 mới áp dụng trên diện rộng. Tính đến nay đã có hơn 120 nước áp dụng loại thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu. Ở Việt Nam, thuế giá trị gia tăng được nghiên cứu khi tiến hành cải cách thuế bước một năm 1990.
Năm 1993, thuế giá trị gia tăng được áp dụng thử nghiệm ở mười một đơn vị hoạt động trong các ngành đường, dệt, xi măng. Thuế giá trị gia tăng được ban hành thành luật và được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp thứ XI, khoá 9 ngày 10/05/1997 và chính thức áp dụng từ ngày 01/01/1999. Thuế giá trị gia tăng được định nghĩa như sau: Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách theo mức độ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. * Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng: Anh Tuấn K39.01 HỌC VIỆN TẢI CHÍNH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP + Thuế giá trị gia tăng mang tính chất là thuế gián thu là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ nhằm động viên người tiêu dùng.
+ Thuế giá trị gia tăng đánh vào tất cả các giai đoạn sản xuất kinh doanh nhưng chỉ trên phần tăng thêm của hàng hoá dịch vụ ở mỗi giai đoạn luân chuyển. Theo như cách đánh thuế này thì tổng số thuế thu được ở tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính theo giá bán hàng hoá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. + Thuế giá trị gia tăng có tính trung lập cao. Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi quá trình phân đoạn sản xuất. Nghĩa là mỗi loại sản phẩm hàng hoá dù qua nhiều hay ít khâu sản xuất kinh doanh đều phải nộp thuế như nhau. Do vậy sẽ khuyến khích chuyên môn hoá trong sản xuất lưu thông. + Thuế giá trị gia tăng có tính lãnh thổ rõ rệt.
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia. + Thuế giá trị gia tăng có khả năng đem lại số thu ổn định cho Ngân sách Nhà Nước. Thuế giá trị gia tăng phụ thuộc vào mức tiêu dùng xã hội và xu thế xã hội càng phát triển thì nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng ngày càng cao hơn. Tác dụng của thuế giá trị gia tăng: Luật Thuế giá trị gia tăng được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/011999, thay thế Luật Thuế doanh thu chính là một bước đột phá có tính chất quyết định của công cuộc cải cách thuế bước 2 của Việt Nam.
Đến nay Luật Thuế giá trị gia tăng đã đi vào cuộc sống được 5 năm và phát huy được tác dụng đối với nên kinh tế nói chung và các cơ sở kinh doanh nói riêng. Đồng thời thuế giá trị gia tăng có tác dụng rất Anh Tuấn K39.01 HỌC VIỆN TẢI CHÍNH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP lớn trong công cuộc phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Điều này thể hiện qua các tác dụng sau: - Thuế GTGT không thu trùng lặp cho nên góp phần khuyến khích chuyên môn hoá để nâng cao năng suất chất lượng hạ giá thành sản phẩm. - Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng được áp dụng rộng rãi, có phạm vi đối tượng thu rất rộng ( thu vào mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng hàng hoá dịch vụ ) nên có thể tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước ngày càng tăng.
Ngoài ra, nó còn là loại thuế do người tiêu dùng chịu không gây ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. - Thuế GTGT góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu, do hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% và được hoàn trả lại toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở khâu trước. Đồng thời nó còn kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn của hàng hoá nhập khẩu với mục đích bảo vệ sản xuất kinh doanh nội địa. - Thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện tốt việc hạch toán và thực hiện mua bán hàng hoá dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, cho phép chống trốn lậu thuế có hiệu quả cao nâng cao tính tự giác của đối tượng kinh doanh.
- Thuế GTGT góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Qua đây, chúng ta thấy thuế giá trị gia tăng có nhiều ưu điểm nổi trội hơn thuế doanh thu. Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng tạo nhiều thuận lợi cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.01 HỌC VIỆN TẢI CHÍNH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 1. Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 1.
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng: Theo quy định hiện hành thì đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hoá dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài) trừ 29 nhóm mặt hàng không chịu thuế. Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng: Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam. Không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh ( gọi chung là cơ sở kinh doanh ) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thế giá trị gia tăng ( gọi chung là người nhập khẩu ) đều là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng: Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất.
+ Giá tính thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá dịch vụ là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. + Đối với hàng hoá nhập khẩu, giá tính thuế là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng ( + ) với thuế nhập khẩu. Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm. Ngoài ra, giá tính thuế giá trị gia tăng đối với một số trường hợp khác cũng được quy định cụ thể tại điều 7 luật thế giá trị gia tăng và điều 6 của Nghị định số 79/2000/NĐ - CP ngày 29/12/2000 của Chính Phủ chi tiết thi hành luật thuế giá trị gia tăng.
Thuế suất: luật thuế giá trị gia tăng quy định 4 mức thuế suất là 0%, 5%, 10%.01 HỌC VIỆN TẢI CHÍNH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP + Thuế suất 0%: áp dụng cho hàng hoá dịch vụ xuất khẩu. + Thuế suất 5%: áp dụng cho hàng hoá dịch vụ có tính chất thiết yếu trọng đời sống kinh tế, xã hội. + Thuế suất 10%: áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ thông thường. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng: *Phương pháp khấu trừ thuế: Áp dụng cho các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp Nhà nước.
Luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng. + Xác định thuế giá trị gia tăng phải nộp. Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào Trong đó: Thuế GTGT đầu ra (=) giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra (X) Thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra.
Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ. Thuế giá trị gia tăng đầu vào bằng ( = ) tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ ( bao gồm cả tài sản cố định ) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị Anh Tuấn K39.01 HỌC VIỆN TẢI CHÍNH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP gia tăng, số thuế giá trị gia tăng ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Hoàn thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ được xét hoàn thuế trong các trường hợp: - Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết.