Chương 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP FDI 1.Lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI 1.Lý luận về quản lý nhà nước 1. Khái niệm Theo Phan Huy Đường (2015), Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Đối tượng quản lý, khách thể quản lý chủ yếu là quản lý con người.
Ngoài ra còn quản lý các khách thể như tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Chủ thể quản lý có thể là một người, một tổ chức, một bộ máy. Quản lý là sự kết hợp giữa trí tuệ và lao động. Bởi vì ba nhân tố có tính chất quyết định sự thành bại, sự phát triển của một công việc, một chế độ xã hội là: trí lực, sức lao động và quản lý.
Trong đó quản lý là sự phối kết hợp giữa sức lao động và trí thức, nếu phối hợp tốt thì xã hội, nền kinh tế sẽ phát triển, còn ngược lại, xã hội, nền kinh tế sẽ trì trệ, rối ren. Vì thế nói đến quản lý là phải nói đến cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý như chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người, quản lý xuất hiện như một tất yếu khách quan. Có nhiều dạng quản lý, nhiều dạng chủ thể quản lý khác nhau trong sự vận động và phát triển của xã hội.
Một trong số đó là dạng quản lý rất cơ bản, đặc thù - quản lý nhà nước. Theo Nguyễn Việt Hưng (2016), Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối,. để đạt được mục 6 tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Quản lý nhà nước là sự quản lý bằng quyền lực của nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao.
Quản lý nhà nước là một tất yếu khách quan, ý mang tính cưỡng bức, cưỡng chế, mệnh lệnh và tính chính trị rõ nét, đại diện cho cả xã hội. Vai trò của quản lý nhà nước Theo Giáo trình Quản lý Nhà nước của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Việt Hưng (2016), vai trò của quản lý nhà nước được cụ thể như sau: - Điều chỉnh, giải quyết những ách tắc, trở ngại trong những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là một vài vấn đề chủ yếu sau: hợp đồng và giải quyết các hợp đồng; Môi trường kinh doanh: nhà nước lập khung pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động không xâm hại lẫn nhau, không ảnh hưởng đến đời sống người dân xung quanh. Nhà nước cần lập ra một môi trường pháp lý thuận lợi, thích hợp cho hoạt động kinh doanh.
Nhà nước vừa nâng cao hiệu lực quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân, vừa phát huy vai trò tự chủ, năng động của các thành phần kinh tế trong sản xuất kinh doanh, tạo môi trường kinh tế thuận lợi và hành lang pháp luật an toàn cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân vì thế hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp là thước đo của quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước. -Ngăn ngừa, hạn chế những mặt trái, các tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh những ưu thế mà nền kinh tế thị trường đem lại, chúng ta không thể bỏ qua các khuyết tật mà ta thường thấy như: + Một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo 7 + Lạm pháp, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế + Huỷ hoại môi trường sinh thái + Mất ổn định, nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác.
Do đó, cần thông qua các cơ chế của nhà nước để can thiệp vào các lỗ hổng này nếu không nó sẽ làm cho nền kinh tế kém phát triển, đẩy lùi sự tiến bộ xã hội. - Khắc phục những tiêu cực trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát huy bản chất tốt đẹp của xã hội, xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế - xã hội, đó chẳng những là một tất yếu mà còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng. - Định hướng, hoạch định, ban hành một khuôn khổ pháp luật và thực hiện các chính sách, khuyến khích hỗ trợ, kiểm soát, trọng tài,. đối với các thành phần kinh tế, vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế được thể hiện rõ nét ở các điểm chính như: + Thực hiện được mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước + Bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên tham gia thị trường + Hỗ trợ công dân trong làm ăn kinh tế + Bảo vệ môi trường sinh thái + Bổ sung vào những lỗ hổng của thị trường - QLNN có vai trò to lớn đảm bảo ổn định vĩ mô cho phát triển kinh tế, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội; đảm bảo phúc lợi xã hội, góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; đảm bảo công bằng xã hội, tạo động lực phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Lý luận về doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm Tại Luật đầu tư (2014), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là sự di chuyển vốn thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư 8 hình thành vốn vật chất hay vốn sản xuất, đồng thời trực tiếp quản lý, điều hành tổ chức sản xuất, kinh doanh,. nhằm mục đích thu lợi nhuận. FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo Luật doanh nghiệp (2014), Doanh nghiệp có vốn FDI là một hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Doanh nghiệp điện tử FDI Là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực điện tử (bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt nam do NĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Trong đó, NĐTNN là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Đặc điểm của doanh nghiệp FDI Thứ nhất, đối với các dự án đầu tư thì các chủ đầu tư (doanh nghiệp) phải đóng góp một khối lượng vốn tối thiểu tuỳ theo quy định luật đầu tư của từng quốc gia được gọi là vốn pháp định.
Theo Luật đầu tư của Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải góp vốn tối thiểu là 30% vốn pháp định của dự án, tỷ lệ này ở Mỹ là 10%, các nước khác là 20%. Nguyễn Bích Ngọc, 2017) Thứ hai, sự phân chia quyền quản lý các doanh nghiệp phụ thuộc vào mức đóng góp vốn. Nếu chủ đầu tư góp 100% vốn trong vốn pháp định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và cũng do họ quản lý toàn bộ. 9 Thứ ba, lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần.
Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc thôn tính và sát nhập doanh nghiệp với nhau. Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả bên đầu tư và nhận đầu tư. Thứ sáu, đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia. Vai trò của doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế của quốc gia.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp FDI còn có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và đóng góp cho ngân sách địa phương,. Vai trò của doanh nghiệp FDI cụ thể như sau: - Doanh nghiệp FDI cung cấp nguồn vốn quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới: Đối với những địa bàn thiếu vốn, tích lũy từ nền kinh tế thấp thì việc thành lập các doanh nghiệp FDI là biện pháp thu hút vốn đầu tư có hiệu quả. - Doanh nghiệp FDI không chỉ tạo việc làm cho lao động mà còn có vai trò quan trọng góp phần phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao, tạo thêm việc làm cho người lao động, có điều kiện tiếp thu khoa học - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và tác phong làm việc công nghiệp: Hoạt động của các doanh nghiệp FDI có tác động rất lớn đối với quá trình phát triển khoa học, công nghệ.