Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm dự án và quản lý dự án đâu tư xây dựng 1. Khái niệm dự án đầu tư Luật Xây dựng Việt Nam số 50/QH13/2014 ngày 18/6/2014 định nghĩa: ‘‘Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.(Quốc hội, 2014) Dự án đầu tư có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Về góc độ tổng thể của quá trình đầu tư: Dự án đầu tư có thể được hiểu như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong một khoảng thời gian nhất định.
(Trịnh Quốc Thắng, 2013) Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch đã đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Về góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ hoạch chỉ định việc sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội. Về góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là kế hoạch hóa chi tiết để thực hiện chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư. Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là bộ hồ sơ xác lập nhu cầu về việc sử dụng nguồn lực đầu vào (nhân tài - vật lực) cho mục tiêu đầu tư (sản phẩm - lợi nhuận và lợi ích kinh tế - xã hội khác).
Dù xét theo bất kỳ góc độ nào thì một dự án đầu tư xây dựng cũng đều bao gồm: mục tiêu của dự án, các kết quả, các hoạt động và các nguồn lực. Các 5 kết quả được xem là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án. Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng có các đặc điểm cơ bản sau đây: - Các công trình xây dựng luôn gắn liền với đất xây dựng công trình.
Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác, sử dụng. (Trịnh Quốc Thắng, 2013) - Sản phẩm Đầu tư xây dựng có tính đơn chiếc, độc đáo và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt. Sản phẩm cuối cùng là công trình xây dựng hoàn thành đảm bảo các mục tiêu ban đầu đã đặt ra về thời gian, chi phí, chất lượng, an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trường… - Chu kỳ của dự án đầu tư xây dựng trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn từ thời điểm bắt đầu xuất hiện ý tưởng về xây dựng công trình và kết thúc khi công trình xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, khi công trình dự án hết niên hạn khai thác và chấm dứt tồn tại. Các chủ thể này có nhiệm vụ, trách nhiệm khác nhau, quan hệ giữa họ thường mang tính đối tác và dễ xảy ra xung đột về lợi ích.
Vì vậy, khi tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong quản lý quá trình đầu tư. (Trịnh Quốc Thắng, 2013) - Đầu tư xây dựng thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng công trình. Quản lý Đầu tư xây dựng phải thúc đẩy quá trình tổ chức hợp lý 6 các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công… nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình. Dự án đầu tư xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực là tiền vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiết bị…, trong thời gian cho phép.
(Trịnh Quốc Thắng, 2013) - Đầu tư xây dựng yêu cầu lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt thời gian thực hiện đầu tư. Vì vậy, quản lý Đầu tư xây dựng phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định. (Trịnh Quốc Thắng, 2013) - Đầu tư xây dựng có tính chất lâu dài, thời gian đầu tư xây dựng thường mất nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý Đầu tư xây dựng, chẳng hạn: giá cả, lạm phát, lãi suất… (Trịnh Quốc Thắng, 2013) 1.
Quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm quản lý dự án ĐTXD Quản lý dự án là việc áp dụng các công cụ, kiến thức và kỹ thuật nhằm định nghĩa, lập kế hoạch, tiến hành triển khai, tổ chức, kiểm soát và kết thúc dự án. Môt dự án được quản lý tốt, tức là khi kết thúc phải thoả mãn được chủ đầu tư về các mặt: thời hạn, chi phí và chất lượng kết quả. (Nguyễn Văn Đáng, 2015) Quản lý dự án đầu tư xây dựng là toàn bộ những hoạt động có mục đích của chủ đầu tư thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và các công cụ quản lý nhằm tác động lên đối tượng quản lý dự án đầu tư xây dựng, là toàn bộ các công việc của dự án và các bên có liên quan nhằm hoàn thành tốt nhất các mục tiêu đã đặt ra.
Quản lý dự án đầu tư xây dựng là sự điều hành các công việc theo một kế hoạch đã định hoặc các công việc phát sinh xảy ra trong quá trình hoạt 7 động xây dựng, với các điều kiện ràng buộc(Quy phạm pháp luật:luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn,…;Ngân sách: nguồn vốn, tài chính;Thời gian: tiến độ thực hiện;Không gian: đất đai, tổng mặt bằng xây dựng) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách tối ưu. Nguyên tắc của quản lý dự án đầu tư xây dựng Các dự án đầu tư xây dựng được quản lý và thực hiện đúng kế hoạch đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu tại Điều 51 của Luật Xây dựng năm 2014 theo quy định nhất thiết phải phù hợp quy định của pháp luật. Các tổ chức, cá nhân liên quan đến quá trình thực hiện dự án hoạt động xây dựng đầu tư dự án phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với từng loại dự án; loại, cấp công trình và công việc xây dựng theo quy định của pháp luật phải được quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan tổ chức quản lý nhà nước và chủ đầu tư. Phải sử dụng nguồn vốn một cách phù hợp, cân đối quản lý chặt chẽ các nguồn vốn được cấp bởi ngân sách nhà nước rõ ràng, minh bạch đảm bảo mục tiêu đúng đắn cho việc đầu tư cũng như tiến độ và chất lượng của dự án công trình được thực hiện.
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí thất thoát và tiêu cực khác trong hoạt động đầu tư xây dựng. Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm quản lý thực hiện dự án được đầu tư bằng việc dùng vốn ngoài ngân sách do nhà nước quản lý đầu tư đảm bảo được mức độ an toàn cao nhất và hiệu quả của dự án. Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn thực hiện Theo luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014, nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm quản lý về phạm vi, kế hoạch công việc; khối lượng công việc; chất lượng xây dựng; tiến độ thực hiện; chi phí đầu tư xây dựng; an toàn trong thi công xây dựng; bảo vệ môi trường trong xây dựng; lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng; quản lý rủi ro và các nội dung cần thiết khác. Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng Theo ISO 9000 “Quản lý chất lượng là những hoạt động của các chức năng chung của quản lý, bao gồm các việc xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ chất lượng.” Vì thế, Quản lý chất lượng công trình xây dựng là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu,các tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, quản lý và sử dụng công trình xây dựng.
Quản lý tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng Quản lý tiến độ thực hiện dự án là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ nhằm đảm bảo thời gian hoàn thành dự án đúng kế hoạch. Quản lý tiến độ thực hiện dự án chỉ rõ mỗi công việc kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào hoàn thành, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án thực hiện bao lâu phải hoàn thành. Quản lý tiến độ dự án bao hàm việc đưa ra một lịch trình cụ thể phải làm và điều khiển các công việc nhằm đảm bảo rằng lịch trình đó phải được thực hiện. Công trình trước khi xây dựng bao giờ cũng được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó nhà thầu thi công xây dựng có nghĩa vụ lập tiến độ thi công chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện để đạt hiệu quả cao nhất nhưng phải đảm bảo phù hợp tổng tiến độ đã được xác định của toàn dự án.