CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường 1. Khái niệm cán bộ, công chức và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức phường 1. Khái niệm cán bộ, công chức xã, phường Cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ cán bộ, công chức nước ta.
Mọi hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở đều do cán bộ, công chức xã, phường thực hiện. Quan tâm đối với cán bộ, công chức của Đảng là sự quan tâm toàn diện, không chỉ cán bộ, công chức cấp cao, lãnh đạo, quản lý; Cán bộ, công chức ở cấp trung ương, tỉnh, thành phố, huyện mà là cán bộ công chức bình thường, đặc biệt là cán bộ, công chức ở cơ sở, xã, phường, thị trấn; Văn kiện Đại hội IX của đảng đã nhấn mạnh việc nâng cap phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó xác định: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đối với chương trình trình nội dung sát, hợp; chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường” [19], Nghị quyết Trung ương 5 – khóa IX khẳng định: “ Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham những, không ức hiếp; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” [10] và tại Nghị quyết Trung ương 6 – khóa X cũng đã xác định: “ Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa và từng bước nhất thể chế hóa chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở” [11]. 6 Sự nhận thức đối với quan điểm về cán bộ, công chức xã, phường ở Việt Nam cũng năm trong sự vận động chung của quan niệm về cán bộ, công chức Việt Nam qua từng thời điểm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, quan niệm về cán bộ, công chức xã, phường điều chỉnh bởi các văn bản như Quyết định số 112/HĐBT ngày 15/10/1981 quy định về chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã, phường; Thông tư 447/TCCP ngày 10/12/1981 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 112/HĐBT ngày 15/10/1981; Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 quy định về số lượng và chế độ chính sách cán bộ công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể ở xã, phường; Thông tư 97/TTLB/TCCP-BTC ngày 16/8/1995 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995.
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 không quy định cụ thể về cán bộ, công chức phường mà chỉ quy định chung về cán bộ, công chức. Trong các văn bản trên chỉ rõ những chức danh, số lượng cán bộ, công tác tại xã được hưởng sinh hoạt phí chứ không nêu khái niệm về cán bộ, công chức phường. Trải qua một thời gian tương đối dài, lực lượng cán bộ, công chức phường chưa được quan tâm đúng mức. Năm 2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 mới quy định chung về cán bộ, công chức xã, phường: Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Người đứng đầu tổ chức Chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn; - Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường ( Khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003).
Mặc dù quy định trên chưa phân định rõ quan niệm về cán bộ và công chức phường nhưng trên cơ sở tiêu chí chung để phân biệt giữa cán bộ và 7 công chức và Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về cán bộ, công chức phường thì chúng ta vẫn có thể xác định được những đối tượng là cán bộ, công chức phường. Cán bộ phường bao gồm cả cán bộ chuyên trách và không chuyên trách. Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định cụ thể cán bộ và công chức xã tại Điều 4 và Điều 61 và được cụ thể hóa bằng Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở phường”; Nghị định siis 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ “Về công chức xã, phường, thị trấn”. * Khái niệm cán bộ xã, phường Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 đưa ra khái niệm về cán bộ như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; Cán bộ xã, phường có các chức vụ sau đây: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; 8 c) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; đ) Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; e) Chỉ tịch Hội liên hiệp phụ nữ; g) Chủ tịch Hội nông dân ( áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp, diệm nghiệp và có tổ chức Hội nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh. * Khái niệm công chức xã, phường Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức xã, phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND phường, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức xã, phường có các chức danh sau đây: a) Trưởng công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; 9 c) Văn phòng – thống kê; d) Địa chính – xây dựng- đô thị và môi trường ( đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường ( đối với xã) đ) Tài chính – kế toán; e) Tư pháp – Hộ tịch; g) Văn hóa – Xã hội; Như vậy, khái niệm cán bộ, khái niệm công chức đã được luật hóa.
Luật cán bộ, công chức là cơ sở pháp lý cơ bản để phân định rõ giữa cán bộ với công chức. Việc phân định rõ cán bộ, công chức đã tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng các chính sách đối với cán bộ, công chức một cách phù hợp, phát huy được vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam trong hệ thồng chính trị nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức phường nói riêng. Khái niệm quản lý và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường * Khái niệm quản lý Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau. Thực chất của quản lý cũng có những quan điểm không hoàn toàn giống nhau.
Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học, quản lý cơ bản được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất. Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là một. Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [33]. 10 Theo nhà hoa học Mỹ F.Taylo, làm quản lý là bạn phải biết rõ muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà học làm.Fayol cho rằng, quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có; gồm có 5 yếu tố tạo thành: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều hành và kiểm soát. Các nhà nghiên cứu Việt Nam “quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”, là “một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường. Như vậy, từ cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận ( hay phân hệ) là chủ thể quản lý (là các cá nhân hoặc chủ thể quản lý làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và khách thể quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý).
Đó là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.