Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA CÁC SỞ VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THANH NIÊN 1. Khái quát công tác phối hợp giữa các Sở với tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong công tác quản lý nhà nước về thanh niên 1. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên là nguồn nhân lực trẻ, chiếm phần lớn tỷ lệ dân số, là lực lượng năng động, sáng tạo; có vị trí, vai trò hết sức quan trọng kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, thanh niên được hiểu bằng nhiều cách khác nhau, tùy vào góc độ tiếp cận mà chủ thể có những định nghĩa phù hợp về thanh niên. Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2014, định nghĩa “Thanh niên là tuổi trẻ, người trẻ tuổi” [13]. Theo Luật Thanh niên: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” [10]. Theo tác giả Vũ Trọng Kim định nghĩa về thanh niên được nêu trong sách Quản lý nhà nước về công tác thanh niên trong tình hình mới: “Thanh niên là một nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù, bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò to lớn trong hiện tại và giữ vai trò quyết định sự phát triển trong tương lai của xã hội” [7].
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu: Thanh niên là một bộ phận của lực lượng xã hội, có độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi, đã có sự phát 9 triển ổn định về mặt thể chất và trí tuệ, là lực lượng có sức khỏe tốt, năng động, sáng tạo, sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động và đây là lực lượng góp phần vào sự phát triển của xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước về thanh niên Sách Cơ sở lý luận và thực tiễn về Hành chính nhà nước định nghĩa về QLNN như sau: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [4]. QLNN là hoạt động mang tính toàn diện, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội thông qua pháp luật. Đối tượng của QLNN có quy mô lớn, bao gồm các cá nhân, tổ chức đang sinh sống, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và công dân đang làm việc ở nước ngoài.
QLNN về thanh niên là hoạt động quản lý của nhà nước thông qua sử dụng pháp luật và chính sách để tác động trực tiếp lên đối tượng thanh niên, nhằm chăm lo giáo dục, đào tạo thanh niên thành công dân tốt và nguồn nhân lực chất lượng cao. Xuất phát từ thực tế phát triển thanh niên trong xã hội, Nhà nước sẽ quản lý thanh niên nếu có phát sinh những vấn đề trong thanh niên cần pháp luật điều chỉnh. Khái niệm phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về thanh niên Từ “phối hợp” có nghĩa là sự hợp tác của từ hai chủ thể làm việc cùng với nhau, hành động theo một kế hoạch chung nhằm đạt được mục tiêu chung. Xét từ khía cạnh quản lý nhà nước, phối hợp là một phương pháp, một cách thức kết hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức với nhau để bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức năng, nhiệm 10 vụ, quyền hạn được giao.
Phối hợp tồn tại trong suốt quá trình quản lý, từ việc đề ra chính sách, xây dựng thể chế, đến việc tổ chức triển khai, thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật. Mục tiêu của phối hợp là tạo ra sự thống nhất trong hoạt động quản lý nhằm bảo đảm chất lượng và hiệu quả công việc. Mặt khác có thể hiểu, phối hợp. Như vậy, phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về thanh niên là việc các chủ thể được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên, cùng nhau bàn bạc, xây dựng và thực hiện các hoạt động liên kết trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi chủ thể, hợp tác cùng nhau triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về thanh niên; nhằm phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên, chăm lo bồi dưỡng thanh niên.
Chủ trương, chính sách chủ yếu của Đảng và Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về thanh niên 1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý thanh niên Thanh niên là một trong những đối tượng được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, chăm lo và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho lực lượng thanh niên phát triển toàn diện. Từ khi đổi mới, Đảng đã đề ra 03 Nghị quyết chuyên đề về CTTN. (1) Nghị quyết số 25 -NQ/TW, ngày 09/02/1991 của Bộ Chính trị ban hành về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTN.
Đây là Nghị quyết khởi đầu cho đường lối đổi mới của Đảng về CTTN thời kỳ đổi mới. (2) Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới. Nghị quyết đã khẳng định “Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. 11 (3) Nghị quyết số 25-NQ/TW, Ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTN thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nghị quyết tiếp tục khẳng định vai trò to lớn và quan trọng của thanh niên đối với tương lai của dân tộc và tiền đồ của cách mạng Việt Nam: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội” [1]. Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý thanh niên thông qua các cơ chế, chính sách, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng thanh niên; bảo đảm nguồn kinh phí, phương tiện làm việc và hoạt động cho tổ chức Đoàn thanh niên và toàn xã hội. Nghị quyết số 25-NQ/TW đã nêu ra quan điểm: “Nhà nước quản lý thanh niên và công tác thanh niên; thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên và công tác thanh niên thành pháp luật, chính sách, chiến lược, chương trình hành động và cụ thể hóa trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh hằng năm của các cấp, các ngành” [1]. Nhằm hiện thực hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước cũng đã có những chính sách kịp thời, cụ thể trong công tác QLNN về thanh niên như: Thứ nhất, Luật Thanh niên: là văn bản có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nhấn mạnh vai trò của thanh niên trong xã hội, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của thanh niên; đặt sự quan tâm vào việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên, tạo điều kiện để thanh niên phát triển toàn diện; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, gia đình và xã hội đối với thanh niên; khuyến khích sự phối hợp giữa các cơ quan chính quyền, tổ chức xã hội, và các tổ 12 chức phi chính phủ để thúc đẩy việc triển khai hiệu quả của chính sách và chương trình liên quan đến thanh niên.
Thứ hai, Chiến lược phát triển thanh niên: là chính sách quan trọng của Chính phủ nhằm cụ thể hóa Luật Thanh niên năm 2020 với mục tiêu xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện. Chiến lược đề ra các mục tiêu, giải pháp và trách nhiệm của các chủ thể được quy định rất cụ thể, rõ ràng; nhấn mạnh yếu tố phát huy trách nhiệm của thanh niên, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước bằng chính sách, cơ chế và sự tham gia của cả hệ thống chính trị cùng phát huy, chăm lo, bồi dưỡng, phát triển thanh niên. Cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên Quản lý nhà nước đối với thanh niên là một dạng quản lý tổng hợp, đa diện và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp hài hòa, thống nhất giữa các ngành, các bộ phận trong cùng một ngành, giữa các cấp (từ trung ương đến cơ sở), giữa các chủ thể dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây không chỉ là quá trình áp dụng các chế định pháp luật bắt buộc phải thực hiện đối với thanh niên, mà do đặc thù lứa tuổi, cũng đồng thời là quá trình vận động, thuyết phục, tư vấn, hướng dẫn và giáo dục.
Vì vậy, Nhà nước không thể quản lý thanh niên một cách độc lập mà phải tiến hành trong sự phối hợp chặt chẽ với các chủ thể khác, đặc biệt là với các tổ chức thanh niên, các đoàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhằm thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thanh niên, Chính phủ và Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã ký kết Nghị quyết liên tịch số 01/NQLT-CP-BCHTWĐ, ngày 21/12/2022 quy định về quan hệ phối hợp công tác của Chính phủ và Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Quy chế phối hợp quy định các bộ, cơ quan 13 ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm ký kết chương trình phối hợp với Trung ương Đoàn triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, gắn với lĩnh vực, chức năng của bộ, ngành; tạo cơ chế cho các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức Đoàn ở địa phương phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý thanh niên.