Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế số và xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh mẽ, hoạt động kinh doanh thẻ đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng mang lại nguồn thu dịch vụ phi tín dụng bền vững cho các ngân hàng thương mại. Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), quy mô doanh thu từ dịch vụ thẻ đã ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc từ 789 tỷ đồng năm 2016 lên 1.013 tỷ đồng năm 2017 và đạt 1.598 tỷ đồng vào năm 2018, tương đương mức tăng trưởng ấn tượng 102,5% sau ba năm. Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng nhanh chóng này là bài toán cơ cấu thu nhập chưa thực sự đồng đều và bền vững. Doanh số rút tiền mặt qua hệ thống máy ATM vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo tới 62,76% tổng doanh số thanh toán thẻ năm 2018 (đạt 98.493 tỷ đồng), trong khi doanh số thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ (POS) và thương mại điện tử quy mô nhỏ lẻ chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Cùng với đó, rủi ro gian lận công nghệ cao có chiều hướng gia tăng với tổng giá trị thiệt hại do thẻ giả mạo lên tới 8,53 tỷ đồng vào năm 2018.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát hành và thanh toán thẻ tại ngân hàng thương mại; phân tích toàn diện thực trạng phát hành thẻ, doanh số thanh toán, cơ cấu doanh thu và công tác quản trị rủi ro tại Vietcombank giai đoạn 2016 - 2018; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đẩy mạnh công tác phát hành, mở rộng mạng lưới thanh toán và tối ưu hóa nguồn thu từ hoạt động thẻ. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn hệ thống Vietcombank gồm 111 chi nhánh và hơn 441 phòng giao dịch trong giai đoạn 2016 - 2018. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc hỗ trợ ban điều hành ngân hàng xây dựng chiến lược kinh doanh thẻ hiệu quả, gia tăng tỷ trọng thu ngoài lãi lên mức tăng trưởng kỳ vọng trên 25%/năm và đóng góp tích cực vào đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của Lý thuyết dịch vụ ngân hàng hiện đại (Modern Banking Service Theory) và Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM). Lý thuyết dịch vụ ngân hàng hiện đại khẳng định nghiệp vụ thẻ là phương tiện thanh toán đa năng trên nền tảng kỹ thuật số, giúp các tổ chức tín dụng đa dạng hóa danh mục sản phẩm, khai thác hiệu quả nguồn vốn huy động không kỳ hạn chi phí thấp và tạo nguồn thu ngoài lãi bền vững thông qua phí giao dịch. Bên cạnh đó, mô hình TAM giải thích hành vi chấp nhận phương thức thanh toán không dùng tiền mặt của người tiêu dùng dựa trên hai nhân tố cốt lõi: nhận thức về tính hữu ích (Perceived Usefulness) và nhận thức về tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use).

Về mặt khái niệm, thẻ ngân hàng theo Điều 2 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Dịch vụ thẻ bao gồm toàn bộ các quy trình nghiệp vụ gắn liền với việc phát hành, quản lý hạn mức, xử lý thanh toán, quyết toán giao dịch và cung cấp tiện ích gia tăng cho chủ thẻ. Cơ cấu doanh thu dịch vụ thẻ ngân hàng bao gồm: nguồn thu từ phát hành (phí phát hành, phí thường niên, phí cấp lại thẻ, lãi vay thấu chi/tín dụng và phí trao đổi từ các tổ chức thẻ quốc tế với mức thu bình quân 1,75% giá trị giao dịch ngoài hệ thống) và nguồn thu từ thanh toán (phí chiết khấu thanh toán từ đơn vị chấp nhận thẻ Merchant Discount Rate với mức tối thiểu 2,5%, phí giao dịch tại ATM và phí phân bổ từ tổ chức thẻ quốc tế).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ các báo cáo thường niên, báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo tổng kết nghiệp vụ của Trung tâm Thẻ Vietcombank giai đoạn 2016 - 2018, cùng các báo cáo ngành từ Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội Thẻ Ngân hàng Việt Nam. Khung thời gian nghiên cứu tập trung đánh giá chuỗi số liệu tài chính và vận hành từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày 31/12/2018.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 111 chi nhánh, hơn 441 phòng giao dịch, theo dõi dữ liệu vận hành của hệ thống 2.536 máy ATM, hơn 60.000 thiết bị POS và tập dữ liệu của hơn 1,23 triệu thẻ ghi nợ nội địa, quốc tế và tín dụng lưu hành trên toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu thứ cấp có chủ đích toàn diện (Purposive Comprehensive Sampling) được áp dụng nhằm đảm bảo dữ liệu phản ánh đầy đủ 100% mạng lưới hoạt động của Vietcombank, tránh sai lệch do chọn mẫu ngẫu nhiên không đại diện. Phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo là thống kê mô tả (Descriptive Statistics), phân tích so sánh chuỗi thời gian (Time-series Comparative Analysis) và tổng hợp chỉ số tài chính. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính chất nghiệp vụ ngân hàng cần đối chiếu biến động theo các mốc thời gian thực tế, cho phép bóc tách chi tiết cơ cấu doanh thu, biến động số lượng thẻ phát hành mới, tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán và tần suất rủi ro thẻ qua từng năm tài chính một cách chuẩn xác, trực quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực trạng hoạt động thẻ tại Vietcombank giai đoạn 2016 - 2018 đã mang lại bốn phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, quy mô phát hành thẻ tăng trưởng ổn định qua các năm. Thẻ ghi nợ nội địa Connect24 tiếp tục giữ vị thế chủ lực với số lượng phát hành tăng từ 674.534 thẻ năm 2016 lên 798.573 thẻ năm 2017 (tăng 18,39%) và đạt 984.563 thẻ năm 2018 (tăng 23,29% so với 2017). Thẻ ghi nợ quốc tế tăng từ 166.832 thẻ năm 2016 lên 248.463 thẻ năm 2018 (tăng 48,93%). Đặc biệt, phân khúc thẻ tín dụng quốc tế ghi nhận sự bứt phá từ 42.748 thẻ năm 2016 lên 67.349 thẻ năm 2018 (tăng 57,55%), phản ánh nỗ lực chuẩn hóa quy trình thẩm định tín chấp và thế chấp tại các chi nhánh.

Thứ hai, doanh thu dịch vụ thẻ tăng trưởng vượt bậc nhưng cơ cấu nguồn thu có sự chênh lệch lớn. Tổng doanh thu dịch vụ thẻ năm 2018 đạt 1.598 tỷ đồng, tăng 57,75% so với mức 1.013 tỷ đồng của năm 2017 và tăng 102,53% so với mức 789 tỷ đồng của năm 2016. Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động thanh toán thẻ luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 70% tổng thu (năm 2016 đạt 548 tỷ đồng, năm 2017 đạt 753 tỷ đồng và năm 2018 đạt 1.154 tỷ đồng, chiếm 72,22%). Trong khi đó, doanh thu từ phát hành thẻ năm 2018 chỉ đạt 444 tỷ đồng (chiếm 27,78%). Phân theo thương hiệu, thẻ Visa đóng góp doanh thu lớn nhất với 954 tỷ đồng năm 2018, tăng 77,65% so với năm 2017.

Thứ ba, doanh số thanh toán thẻ tăng nhanh nhưng phụ thuộc lớn vào việc rút tiền mặt tại ATM. Tổng doanh số thanh toán thẻ toàn hệ thống tăng từ 101.985 tỷ đồng năm 2016 lên 123.265 tỷ đồng năm 2017 (tăng 20,87%) và đạt 156.923 tỷ đồng năm 2018 (tăng 27,31%). Dù vậy, doanh số giao dịch rút tiền mặt tại ATM năm 2018 lên tới 98.493 tỷ đồng (chiếm 62,76% tổng doanh số), trong khi doanh số chi tiêu thanh toán hàng hóa dịch vụ qua thẻ chỉ đạt 58.430 tỷ đồng.

Thứ tư, rủi ro công nghệ và gian lận giả mạo thẻ diễn biến phức tạp. Năm 2018, tổng giá trị tổn thất do giả mạo thẻ Visa và Mastercard phát sinh tại Vietcombank lên tới 8,53 tỷ đồng, chủ yếu do dữ liệu thẻ bị đánh cắp (skimming) tại các thị trường Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan. Sự cố kỹ thuật hệ thống cấp phép thẻ American Express trong quý 3/2018 cũng gây tổn thất 0,49 tỷ đồng. Để phòng ngừa rủi ro, Vietcombank phải trích lập 10% doanh thu thẻ hàng năm vào quỹ dự phòng rủi ro, đưa số tiền trích lập từ 78,9 tỷ đồng năm 2016 lên 159,8 tỷ đồng năm 2018, với số dư lũy kế cuối kỳ đạt 142,5 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu doanh thu và doanh số thanh toán xuất phát từ cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Về mặt khách quan, tâm lý chuộng tiền mặt của người dân Việt Nam còn rất phổ biến; phần lớn người lao động sử dụng thẻ Connect24 như một công cụ rút lương định kỳ thay vì phương tiện chi tiêu hàng ngày. Về mặt chủ quan, để mở rộng thị phần trong môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng thương mại, Vietcombank đã triển khai nhiều chương trình miễn phí phát hành và giảm phí thường niên (như chiến dịch phát hành thẻ miễn phí dịp 30/4 - 1/5/2016 tiêu tốn 467 triệu đồng hay miễn phí thường niên thẻ Vietnam Airlines Amex năm 2017 chi phí 986 triệu đồng), khiến doanh thu phát hành bị thu hẹp tỷ trọng.

Khi so sánh với các nghiên cứu cùng ngành về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, kết quả của Vietcombank cho thấy vị thế dẫn đầu tuyệt đối về doanh số thanh toán thẻ quốc tế và khả năng độc quyền phát hành thẻ American Express. Tuy nhiên, hiệu quả vận hành mạng lưới POS tại các đơn vị bán lẻ nhỏ chưa cao bằng các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân do quy trình phát triển điểm chấp nhận thẻ còn thận trọng. Về phương diện trình bày dữ liệu, các biến động doanh thu theo từng dòng sản phẩm thẻ (Visa, Master, Connect24, JCB, Amex) và cơ cấu doanh số giao dịch ATM so với POS hoàn toàn có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường xu hướng tăng trưởng (Stacked Bar and Trendline Chart), giúp các nhà quản trị dễ dàng nhận diện điểm bão hòa và các nút thắt chuyển dịch cơ cấu dịch vụ theo chuỗi thời gian 2016 - 2018.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy mạnh công tác phát hành thẻ và tối ưu hóa doanh thu từ dịch vụ thẻ trong giai đoạn tiếp theo, Vietcombank cần triển khai đồng bộ bốn nhóm giải pháp chiến lược sau:

Thứ nhất, mở rộng và hiện đại hóa hệ thống kênh phân phối điểm chấp nhận thẻ. Trung tâm Thẻ phối hợp với Khối Bán lẻ và các chi nhánh chủ động khảo sát, lắp đặt thêm 15.000 thiết bị POS thông minh (Smart POS/mPOS) và nâng cấp hơn 500 máy ATM đa chức năng (CRM) trong giai đoạn 2021 - 2023. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng doanh số thanh toán hàng hóa dịch vụ qua POS lên mức 45% tổng doanh số giao dịch thẻ, giảm áp lực giao dịch rút tiền mặt tại ATM xuống dưới 55%.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác phòng ngừa rủi ro và nâng cấp bảo mật hạ tầng công nghệ. Phòng Quản lý rủi ro hoạt động thẻ kết hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin thực hiện chuyển đổi 100% thẻ từ nội địa sang thẻ chip EMV theo tiêu chuẩn cơ sở VCCS của Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn 2021 - 2022; đồng thời tích hợp công nghệ xác thực đa tầng 3D-Secure 2.0 cho mọi giao dịch thanh toán trực tuyến. Giải pháp này hướng tới mục tiêu kéo giảm tỷ lệ tổn thất gian lận thẻ xuống dưới 0,02% tổng doanh số thanh toán và tiết giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro từ mức 159,8 tỷ đồng hiện nay.

Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm và cá nhân hóa dịch vụ theo từng phân khúc khách hàng. Khối Bán lẻ và Phòng Phát triển sản phẩm đẩy mạnh thiết kế các dòng thẻ đồng thương hiệu du lịch, thẻ tích hợp ví điện tử, thẻ số ảo (Virtual Card) và phát triển gói sản phẩm thẻ tín dụng hoàn tiền linh hoạt cho nhóm khách hàng trẻ (Gen Z, Millennials) cũng như dòng thẻ kim loại cao cấp cho phân khúc Priority. Thời gian hoàn thiện và tung ra thị trường trong giai đoạn 2021 - 2022, phấn đấu gia tăng lượng thẻ tín dụng quốc tế phát hành mới thêm 30%/năm.

Thứ tư, tái cơ cấu chính sách định phí và gia tăng nguồn thu từ dịch vụ giá trị gia tăng. Khối Kế hoạch Tài chính chủ trì phối hợp với Trung tâm Thẻ xây dựng chính sách định phí bậc thang linh hoạt đối với đơn vị chấp nhận thẻ, tăng thu từ phí chuyển đổi ngoại tệ đối với giao dịch xuyên biên giới, phí bảo hiểm du lịch tích hợp thẻ và dịch vụ thông báo biến động số dư. Lộ trình thực hiện liên tục từ đầu năm 2021 nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ thẻ đạt bình quân 20% - 25%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Thứ nhất, ban lãnh đạo và các nhà hoạch định chiến lược tại các ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp mô hình phân tích chi tiết về cơ cấu doanh thu 70/30 giữa hoạt động thanh toán và phát hành thẻ, giúp các nhà quản trị nhận diện xu hướng dịch chuyển nguồn thu ngoài lãi và xây dựng lộ trình đầu tư hạ tầng thanh toán POS tối ưu.

Thứ hai, chuyên viên quản trị rủi ro thanh toán và an ninh công nghệ ngân hàng. Cán bộ nghiệp vụ có thể tham khảo trực tiếp các tình huống nghiên cứu thực tế về rủi ro skimming tại ATM, lỗi cấp phép giao dịch quốc tế và cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro 10% doanh thu tại Vietcombank để hoàn thiện quy trình kiểm soát gian lận năm bước và ứng phó sự cố an ninh thẻ.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị với hệ thống số liệu thứ cấp toàn diện giai đoạn 2016 - 2018 trên quy mô hơn 1,2 triệu thẻ lưu hành, phục vụ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu về chuyển đổi số ngân hàng bán lẻ và hành vi tiêu dùng phi tiền mặt.

Thứ tư, chuyên viên phát triển sản phẩm thẻ và marketing ngân hàng. Nhóm đối tượng này có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ việc đánh giá hiệu quả chi phí của các chiến dịch marketing thực tế (như chương trình Vietnam Airlines Amex ngân sách 986 triệu đồng hay chương trình du lịch Malaysia ngân sách 325 triệu đồng) nhằm xây dựng các chương trình khuyến mại trúng đích và gia tăng tỷ lệ kích hoạt thẻ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao doanh thu từ hoạt động thanh toán thẻ tại Vietcombank lại chiếm tỷ trọng vượt trội so với doanh thu phát hành thẻ?

Trong giai đoạn 2016 - 2018, doanh thu thanh toán thẻ luôn chiếm trên 70% tổng thu (năm 2018 đạt 1.154 tỷ đồng, chiếm 72,22%) nhờ Vietcombank sở hữu mạng lưới chấp nhận thẻ quy mô lớn với hơn 60.000 POS và 2.536 ATM, đem lại nguồn thu phí chiết khấu thanh toán lớn. Ngược lại, doanh thu phát hành chỉ đạt 444 tỷ đồng (27,78%) do áp lực cạnh tranh buộc ngân hàng phải miễn, giảm phí phát hành và phí thường niên để phát triển chủ thẻ mới.

Thách thức lớn nhất trong hành vi sử dụng thẻ của khách hàng Vietcombank được luận văn chỉ ra là gì?

Thách thức lớn nhất là thói quen sử dụng tiền mặt vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối. Năm 2018, doanh số rút tiền mặt tại ATM đạt 98.493 tỷ đồng, chiếm tới 62,76% tổng doanh số thanh toán thẻ của toàn hệ thống. Phần lớn khách hàng sở hữu thẻ ghi nợ nội địa Connect24 chỉ xem thẻ là công cụ nhận lương và rút tiền, khiến tiềm năng thu phí từ các giao dịch thanh toán mua sắm hàng hóa dịch vụ tại điểm bán lẻ chưa được khai thác tối đa.

Vietcombank đã ghi nhận những thiệt hại rủi ro cụ thể nào trong hoạt động kinh doanh thẻ giai đoạn nghiên cứu?

Nghiên cứu chỉ rõ ngân hàng chịu hai nhóm rủi ro chính: gian lận thẻ giả và lỗi kỹ thuật hệ thống. Năm 2018, tổng giá trị thiệt hại do làm giả thẻ Visa và Mastercard lên tới 8,53 tỷ đồng (chủ yếu từ các giao dịch bị sao chép thông tin tại nước ngoài). Ngoài ra, sự cố phần mềm chấp nhận thẻ American Express quý 3/2018 đã gây thất thoát 0,49 tỷ đồng, buộc ngân hàng phải trích quỹ dự phòng rủi ro lên đến 159,8 tỷ đồng.

Chiến lược độc quyền phát hành thẻ American Express đem lại lợi thế cạnh tranh gì cho Vietcombank?

Hợp tác độc quyền với American Express giúp Vietcombank thống lĩnh phân khúc khách hàng cao cấp và mạng lưới đại lý chấp nhận thẻ sang trọng (khách sạn 5 sao, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng cao cấp). Mặc dù rủi ro phát sinh rất hiếm nhưng giá trị giao dịch của thẻ Amex rất lớn. Việc ngân hàng đầu tư 986 triệu đồng miễn phí thường niên năm 2017 đã tạo dựng hình ảnh thương hiệu đẳng cấp vượt trội so với các đối thủ trên thị trường.

Những giải pháp nào được đánh giá là mang tính đột phá để tăng thu từ hoạt động thẻ tại Vietcombank?

Bốn giải pháp mang tính đột phá gồm: đẩy mạnh lắp đặt 15.000 POS thông minh tại các chuỗi bán lẻ nhỏ; hoàn thành chuyển đổi 100% thẻ chip EMV chuẩn VCCS nhằm triệt tiêu rủi ro skimming; phát triển các dòng thẻ số ảo và thẻ tín dụng cá nhân hóa theo phân khúc khách hàng; đồng thời tái cấu trúc biểu phí dịch vụ giá trị gia tăng và phí giao dịch ngoại tệ xuyên biên giới.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh kinh doanh thẻ tại Vietcombank giai đoạn 2016 - 2018 với sự bứt phá doanh thu mạnh mẽ từ 789 tỷ đồng lên 1.598 tỷ đồng.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng mất cân đối khi doanh số rút tiền mặt tại ATM vẫn chiếm tỷ trọng lớn tới 62,76% tổng doanh số thanh toán thẻ năm 2018 (đạt 98.493 tỷ đồng).
  • Nhận diện chi tiết các nguy cơ gian lận công nghệ cao với thiệt hại thực tế 8,53 tỷ đồng và cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghiệp vụ đạt 159,8 tỷ đồng năm 2018.
  • Đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp đồng bộ về phát triển mạng lưới kênh phân phối, nâng cấp bảo mật chip EMV, đa dạng hóa sản phẩm số và tối ưu hóa chính sách định phí dịch vụ.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn sâu sắc cho công tác hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại trong kỷ nguyên số.

Về lộ trình tiếp theo, Vietcombank cần ưu tiên hoàn tất chuyển đổi toàn bộ hạ tầng thẻ chip EMV và số hóa quy trình phát hành thẻ điện tử trong giai đoạn 2021 - 2025. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể tiếp tục khai thác các hàm ý quản trị trong công trình này để triển khai ứng dụng vào thực tiễn quản hành ngân hàng thương mại.