CHƯƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận cơ bản về dịch vụ ngân hàng và dịch vụ ngân hàng số 1. Tổng quan về Dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm Dịch vụ Ngân hàng Khi nói lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều quan niệm dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng.
Ở Anh, hoạt động ngân hàng được phân loại ra 3 loại hình dịch vụ chính: dịch vụ trung gian tài chính (nhận tiền gửi và cho vay); dịch vụ thanh toán; các loại dịch vụ khác. Theo David Cox, quan niệm của nước Anh là: hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng hoặc là cơ sở, điều kiện để mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng: Tác giả chỉ rõ “Mọi ngân hàng hoạt động với ba chức năng cơ bản: nhận và giữ các khoản tiền gửi; cho phép rút tiền ra và vận hành hệ thống chuyển tiền; cho vay các khoản tiền gửi dư thừa tới các khách hàng có nhu cầu vay vốn. Đây là chức năng cơ bản nhất, nhưng đầu những năm 90, hệ thống ngân hàng hiện đại còn có các dịch vụ khác rộng rãi hơn, tinh vi hơn nhiều. Trong thực tế, một ngân hàng bán lẻ lớn thường có khoảng 300 dịch vụ khác nhau cho khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp”.
Các dịch vụ ngân hàng được phân thành 3 loại hình: dịch vụ ngân hàng cho khách hàng cá nhân, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng doanh nghiệp, dịch vụ ngân hàng cho các nhà xuất khẩu và nhập khẩu. Tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác, khái niệm ngân hàng thương mại được hiểu là những công ty kinh doanh, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Dịch vụ tài chính là thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán. Tuy nhiên đến nay, dịch vụ tài chính vẫn là một khái niệm mới và cũng chưa có một định nghĩa thống nhất, nhưng đã được dùng ở các nước trên thế giới.
Năm 1997, các nước thành viên WTO đã ký kết một thoả thuận về dịch vụ tài chính, như là một phần trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO. 70 quốc gia đã ký cam kết và đến nay 148 nước đã thừa nhận cách phân ngành dịch vụ của WTO. Theo WTO: một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà 11 cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoài trừ bảo hiểm).
Đây cũng chưa phải là khái niệm dịch vụ tài chính, mà là sự mô tả nội hàm của thuật ngữ này. Việc phân loại dịch vụ nói chung và phân loại dịch vụ ngân hàng (trong dịch vụ tài chính) của WTO GATS là dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. WTO đã liệt kê dịch vụ nói chung thành 12 ngành lớn. Mỗi ngành lớn lại được chia ra các phân ngành (55 phân ngành).
Trong các phân ngành, lại liệt kê các dịch vụ cụ thể, chi tiết (155 phân ngành). Trong bảng danh mục phân loại các dịch vụ đó, dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 (trong số 12 phân ngành dịch vụ). Trong dịch vụ tài chính, có tất cả dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy, nội hàm dịch vụ tài chính gồm: Dịch vụ bảo hiểm; Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác; Việc bố trí phân ngành trên đây có mấy nét đáng lưu ý.
Thứ nhất, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính nói chung. Dịch vụ ngân hàng được xếp trong ngành 7, phân ngành B. Thứ hai, trong phân ngành B, đã có dịch vụ tài chính khác, nhưng đến phân ngành C lại thêm dịch vụ tài chính khác. Đây không phải là sự trùng lặp, mà là một quy phạm mở, có nghĩa là: bất kỳ dịch vụ nào đang tồn tại hoặc các dịch vụ mới sẽ xuất hiện trong tương lai, dù không được liệt kê trong danh mục của WTO cũng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS, nếu những dịch vụ này được cung cấp trên cơ sở thương mại.
Thứ ba, do khó phân tách rạch ròi giữa dịch vụ ngân hàng với dịch vụ tài chính khác, WTO đã phải gộp vào một phân ngành 7B “Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác”, sau đó liệt kê thành các tiết a, b, c, d, e ( 5 tiết này có tính chất thuần tuý dịch vụ ngân hàng) và các tiết tiếp theo f, g, h, i, j, k,. Cụ thể, phân ngành B như sau: “B” Các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể bảo hiểm):a, Nhận tiền gửi và các khoản tiền phải hoàn trả từ công chúng; b, Tất cả các kiểu cho vay, bao gồm cả tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, Factoring và tài trợ cho các giao dịch thương mại; c, Cho thuê tài chính; d, Tất cả các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền; e, 12 Bảo lãnh và cam kết; f, Buôn bán cho chính tài khoản của mình hoặc cho tài khoản của người tiêu dùng hoặc là tại sở giao dịch, tại thị trường phi tập trung hoặc ở các nơi khác các sản phẩm sau đây: Các công cụ của thị trường tiền tệ, ngoại tệ, các sản phẩm phái sinh, tỷ giá và các công cụ lãi suất, các chứng khoán chuyển nhượng được, các công cụ mua bán được khác và các tài sản tài chính; g, Tham dự vào tất cả các vấn đề liên quan đến chứng khoán, bao gồm nhận bảo lãnh và đầu tư như một đại lý (hoặc công hoặc tư) và cung cấp dịch vụ liên quan; h, Môi giới tiền tệ; i, Quản lý tài sản; j, Các dịch vụ thanh toán đối với tài sản tài chính; k, Các dịch vụ tư vấn và phụ trợ khác; l, Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan được cung cấp bởi các nhà cung ứng dịch vụ tài chính khác. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được xây dựng trên các nguyên tắc chuẩn mực của WTO; cách hiểu, cách phân loại về thương mại dịch vụ trong hiệp định cũng được xây dựng theo đúng cách hiểu, phân loại như trong GATS. Do đó, phân loại dịch vụ tài chính (trong đó có dịch vụ ngân hàng) cũng được bố trí như WTO (xem phụ lục G, mục VI – các dịch vụ tài chính, phân ngành B – các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác, gồm 12 tiết, từ a đến l).
Ở nước ta, đến nay chưa có sự minh định rõ ràng, còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm và nội hàm dịch vụ ngân hàng. Có không ít quan niệm cho rằng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (huy động tiền gửi cho vay,. ); chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng (như chuyển tiền, thu hộ uỷ thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán…). Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng.
Một số cuốn sách được biên soạn và trình bày dịch vụ ngân hàng là những gì không phải là chức năng vốn có của ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính (huy động vốn và cho vay), tức là dịch vụ ngân hàng chỉ gồm những gì là thanh toán, tư vấn,…Trong cuốn sách “Phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong tiến trình hội nhập” (NXB Tài chính, năm 2004) cho rằng dịch vụ ngân hàng bao gồm 11 loại hình: nhận tiền gửi; cung cấp các tài khoản giao dịch; quản lý tiền mặt; trao đổi ngoại tệ (dịch vụ ngoại hối); dịch vụ về tín dụng (chiết khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho 13 vay tiêu dùng ); dịch vụ uỷ thác; cho thuê tài chính; tư vấn tài chính; các dịch vụ bảo hiểm; môi giới đầu tư chứng khoán; dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Như vậy dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu theo hai khía cạnh: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và công chúng. Trong này, không bao gồm các hoạt động tự làm cho mình của các tổ chức tín dụng.
Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, cũng như nhiều nước phát triển. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (huy động vốn và cho vay). Quan niệm này chỉ nên dùng trong phạm vi hẹp, khi xem xét hoạt động của một ngân hàng cụ thể để xem các dịch vụ mới, phát triển như thế nào cơ cấu trong hoạt động của mình (Trịnh Bá Tửu,/2005) 1.
Đặc điểm dịch vụ Ngân hàng 1. Dịch vụ Ngân hàng là dịch vụ vô hình: Tính vô hình của dịch vụ trong tiếng Anh là Service intangibility. Tính vô hình của dịch vụ đề cập đến thực tế là nhiều dịch vụ thiếu các thuộc tính vật lí và do đó người tiêu dùng không thể đánh giá được giá trị mà họ sẽ có được khi sử dụng dịch vụ. Dịch vụ Ngân hàng là một trong số các dịch vụ thể hiện rõ điều này.
Nó đem lại các lợi ích cho Khách hàng nhưng các lợi ích này được xây dựng trên nền tảng các giá trị không nhìn thấy được hoặc không hiện hữu dưới dạng vật thể, tuy nhiên vẫn có thể kiểm tra và xác định giá trị lợi ích mang lại cho đối tượng sử dụng dịch vụ. Dịch vụ Ngân hàng là dịch vụ kết nối quan trọng Mọi hoạt động trong lĩnh vực kinh tế hiện nay hầu hết đều có sự liên quan và hỗ trợ từ các dịch vụ Ngân hàng.