CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT 1. Khái niệm kiểm soát trong quản lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực đã xác định để đạt được các mục tiêu đề ra. [3] Quá trình quản lý của một tổ chức có thể chia thành nhiều chức năng song có các giai đoạn chủ yếu là giai đoạn định hướng và giai đoạn tổ chức thực hiện.
Trong giai đoạn định hướng cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu cần và có thể đạt đến, kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu, xây dựng các chương trình, kế hoạch. Khi các chương trình và kế hoạch đã được kiểm tra thì có thể đưa ra các quyết định để cụ thể để tiến hành thực hiện. Trong giai đoạn tổ chức thực hiện thì cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biến và các kết quả của các quá trình để điều chỉnh các định mức, các mục tiêu trên quan điểm tối ưu hóa kết quả hoạt động. Kiểm soát trong quản lý là sự hợp thành một cách lôgic các phương pháp nhằm thu thập và sử dụng thông tin để ra các quyết định về hoạch định và kiểm soát, thúc đẩy hành vi của người lao động và đánh giá việc thực hiện.
Chức năng kiểm tra, kiểm soát luôn được đề cao bởi nó cho biết được mức độ sát thực của quản lý. Để đạt được mục tiêu, việc tổ chức thực hiện cần phải coi trọng trong toàn bộ quá trình quản lý.Tổ chức thực hiện ở đây Luan van 8 bao gồm từ việc áp dụng những chủ trương, trình tự đã được định hướng tới hiệu quả những nguồn lực đã có. Kết quả hoàn thành được báo cáo và so sánh với các mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch. Từ đó người quản lý có thể kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động một cách phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách tối ưu nhất.
Như vậy kiểm tra, kiểm soát được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Nên kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quá trình quản lý, giúp cho nhà lãnh đạo thấy được những bất cập trong tổ chức và tiến hành điều chỉnh cho phù hợp.Tuy nhiên chức năng này cũng thể hiện rất khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế, cấp quản lý và loại hình hoạt động cụ thể. Mối quan hệ giữa kiểm soát với quá trình quản lý [5] Kiểm soát và quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thể hiện qua các giai đoạn lập kế hoạch, tổ chức, đáp ứng các nguồn lực và điều hành. Giai đoạn lập kế hoạch là giai đoạn thiết lập mục tiêu, những mục tiêu này làm căn cứ cho các hoạt động kiểm soát.
Tổ chức là giai đoạn được xây dựng dựa trên cơ sở của việc lập kế hoạch. Trong giai đoạn này mỗi người trong tổ chức được được phân chia quyền hạn cụ thể, điều này sẽ đưa ra lộ trình cho kiểm soát. Nguồn lực bao gồm việc mua sắm máy móc thiết bị, công cụ dụng cụ, tuyển dụng lao động.Nếu các nguồn lực được áp ứng tốt sẽ sẽ tạo điều kiện cho việc kiểm soát được hiệu quả. Điều hành là giám sát nhân viên, chỉ đạo thực hiện, phối hợp cung cấp thông tin cho nhân viên.
Công tác điều hành của nhà quản lý rất cần thiết khi việc thực hiện kế hoạch có sự thay đổi, do đó có tác động thuận lợi hay khó khăn đến việc kiểm soát. Vậy kiểm soát là một chức năng của quản lý, gắn liền với quản lý, phát sinh từ chính nhu cầu của quản lý, gắn liền với mọi hoạt động, ở đâu có quản Luan van 9 lý thì ở đó có hoạt động kiểm soát. Kiểm soát nội bộ (KSNB) a. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau.
Hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO. Theo báo cáo của COSO năm 1992: Kiểm soát nội bộ là một tiến trình được thực hiện bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự liên quan, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hiệu quả và hiệu suất của hoạt động - Sự tin cậy của các báo cáo - Sự tuân thủ các luật và qui định liên quan Bốn nội dung cơ bản trong định nghĩa trên là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý, mục tiêu. Kiểm soát nội bộ là một quá trình. Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát.
Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình, kiểm soát nội bộ chính là quá trình này. Kiểm soát nội bộ không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong doanh nghiệp. Kiểm soát nội bộ sẽ hữu hiệu khi nó là một bộ phận không thể tách rời chứ không phải là chức năng bổ sung Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người. Vì Kiểm soát nội bộ không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập,… mà phải bao gồm cả yếu tố con người – Hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên của tổ chức.
Chính con người định ra mục tiêu kiểm soát và Luan van 10 thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng. Cụ thể: HĐQT và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa phù hợp nhằm hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục. Tất cả các thành viên của tổ chức đề tham gia vào quy trình này. Đảm bảo hợp lý.
Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, chứ không đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện. Mục tiêu của KSNB - Đối với báo cáo tài chính thì KSNB nhấn mạnh phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy - Đối với tính tuân thủ thì KSNB nhấn mạnh phải đảm bảo hợp lý việc chấp hành luật pháp và qui định của nhà nước và các qui định của đơn vị. -Đối với mục tiêu hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, KSNB giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, thực hiện các chiến lược kinh doanh.Các yếu tố cấu thành của hệ thống KSNB - Môi trường kiểm soát: Là nền tảng ý thức, là văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức Các nhân tố của môi trường kiểm soát bao gồm: Tính trung thực và các giá trị đạo đức, cam kết về năng lực, triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý, cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm, chính sách nhân sự, sự quan tâm và chỉ đạo của hội đồng quản trị. - Đánh giá rủi ro: Là việc nhận dạng, phân tích và quản lý các rủi ro có thể đe dọa đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Mỗi đơn vị luôn phải đối phó đối phó với hàng loạt rủi ro từ bên trong lẫn bên ngoài. Điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro là thiết lập mục tiêu. Luan van 11 Mục tiêu phải được thiết lập ở các mức độ khác nhau và phải nhất quán. - Hoạt động kiểm soát: Là những chính sách, thủ tục kiểm soát để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu.
Hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổ chức trong đơn vị. Hoạt động kiểm soát bao gồm chính sách kiểm soát và thủ tục kiểm soát. Chính sách kiểm soát là những nguyên tắc cần làm. Thủ tục kiểm soát là những qui định cụ thể để thực thi chính sách kiểm soát.Các loại hoạt động kiểm soát phổ biến trong doanh nghiệp.
+ Soát xét của nhà quản lý cấp cao: So sánh kết quả thực tế với dự toán, dự báo với kỳ trước hay với các đối thủ. + Quản trị hoạt động: Quản lý ở cấp trung gian sẽ sẽ xét các báo cáo về hiệu quả của tưng bộ phận mà mình phụ trách + Phân chia trách nhiệm hợp lý: Một là không để cho một cá nhân nắm tất cả các khâu của một qui trình, vì sự kiêm nhiệm sẽ tạo điều kiện cho sai sót gian lận. Hai là phải tách biệt: chức năng phê chuẩn và chức năng bảo quản tài sản, chức năng kế toán và chức năng bảo quản tài sản, chức năng phê duyệt và chức năng kế toán. + Kiểm soát quá trình xử lý thông tin: Nhiều hoạt động kiểm soát cần được thực hiện nhằm đảm bảo tính chính xác, tính đầy đủ và phê chuẩn đúng đắn.
Có thể chia thành hai loại là kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng. + Kiểm soát vật chất: Là hoạt động kiểm soát nhằm bảo vệ tài sản như kiểm kê định kỳ, dụng cụ bảo vệ nhằm phòng ngừa như két sắt. + Phân tích rà soát: Là việc so sánh giữa kết quả thực hiện với số liệu dự toán hay giữa các thông tin tài chính và phi tài chính nhằm phát hiện ra các biến động bất thường. - Thông tin và truyền thông: Mỗi bộ phận và cá nhân trong doanh nghiệp đều phải có những thông tin cần thiết giúp thực hiện trách nhiệm của Luan van 12 mình.
Vì vậy thông tin cần thiết phải được xác định, thu thập, và truyền đạt tới cá nhân và bộ phận có liên quan một cách kịp thời và thích hợp. Hệ thống thông tin của doanh nghiệp tạo ra các báo cáo, trong đó chứa đựng những thông tin về tài chính, hoạt động hay tuân thủ, giúp cho nhà quản lý điều hành và kiểm soát doanh nghiệp. - Giám sát: Bản thân hệ thống KSNB cần được giám sát. Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ theo thời gian, bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ.
Những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ cần được phát hiện kịp thời để có biện pháp khắc phục càng sớm càng tốt.