CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu a. Khái niệm - Kinh doanh xuất nhập khẩu: là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán [7].
Bao gồm hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu: + Xuất khẩu: trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài. Theo khoản 1 điều 28 luật thương mại việt nam 2005: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. + Nhập khẩu: trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước.
Theo khoản 2 điều 28 luật thương mại việt nam 2005: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. - Doanh nghiệp xuất nhập khẩu: trong luận văn này được hiểu là doanh nghiệp trực tiếp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu là chủ thể của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Đặc điểm kinh doanh xuất nhập khẩu - Hoạt động xuất, nhập khẩu liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau, nên chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu cũng có thể ở nhiều quốc gia khác nhau.
Chính từ đây cũng sẽ phát sinh sự ràng buộc khác nhau về luật lệ, quy chế ở mỗi nước, các vấn đề về giá cả, lãi suất,. và dẫn đến phát sinh những vấn đề vướng mắc, phức tạp trong nghiệp vụ. - Hàng hóa trong kinh doanh xuất nhập khẩu là những sản phẩm, dịch vụ được di chuyển qua khỏi biên giới hải quan của các quốc gia. - Đồng tiền trong thanh toán xuất nhập khẩu là ngoại tệ đối với ít nhất là một trong các bên kinh doanh.
Vì vậy, có thể là đồng tiền của nước nhập khẩu, nước xuất khẩu, hoặc là của nước thứ ba và thường thống nhất khi ký các hợp đồng liên quan. - Pháp lý trong thanh toán xuất nhập khẩu: Đối với phương thức tín dụng chứng từ thì văn bản pháp lý quan trọng là UCP và UCP 600 (là bản sửa đổi mới nhất của Phòng thương mại Quốc tế được áp dụng từ ngày 01/07/2007). Các phương thức thanh toán khác được thực hiện theo thông lệ quốc tế. Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu của NHTM Cho vay XNK của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều hình thức khác nhau và tuỳ trình độ phát triển của ngân hàng và những qui định của pháp luật mà các ngân hàng lựa chọn áp dụng các hình thức cho phù hợp.
Dưới đây xem xét một số hình thức cho vay XNK thông dụng: [10] a. Cho vay đối với doanh nghiệp xuất khẩu Ø Cho vay thông thường: Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Đây là hình thức cho Luan van 9 vay truyền thống, giống như các dạng cho vay thông thường khác, bao gồm cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức,. Hình thức cho vay này được sử dụng cho các mục đích thu mua, sản xuất, chế biến xuất khẩu, các chi phí phát sinh trong quá trình xuất khẩu, hoặc mua máy móc thiết bị nước ngoài,.
Ø Cho vay trên cơ sở hối phiếu: Doanh nghiệp xuất khẩu khi cần tiền có thể vay ngân hàng bằng cách đem chiết khấu các hối phiếu chưa đến hạn trả tiền. Cơ sở để xác định số tiền cho vay tối đa là giá trị của hối phiếu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu. Thời hạn cho vay tối đa bằng hình thức này là thời hạn còn lại chưa đến hạn thanh toán của hối phiếu. Ø Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu: Đây là hình thức cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán bộ chứng từ đó.
Với hình thức này ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu có thể thu hồi được vốn nhanh tương tự như chiết khấu hối phiếu. Lãi xuất chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu: (1) Chiết khấu có truy đòi; (2) Chiết khấu miễn truy đòi. Ø Cho vay ứng trước cho người xuất khẩu: Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng một phần vốn để doanh nghiệp thực hiện thu mua, chế biến, sản xuất ra sản phẩm cho chính hợp đồng xuất khẩu đó, cho đến khi thu được tiền từ hoạt động xuất khẩu và dùng chính nguồn thu đó để trả nợ ngân hàng. Hình thức cho vay này bao gồm hai hình thức cơ bản sau: - Cho vay ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ: Sau khi lập xong bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ liên quan khác, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của Luan van 10 mình nhờ thu hộ tiền.
Ngân hàng của doanh nghiệp xuất khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị chỉ giao chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P: Documents against Payment) hoặc chấp nhận một hối phiếu đòi nợ kèm theo (điều kiện D/A: Documents against Acceptance). Thường doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắn hạn phục vụ nhu cầu tiền mặt tạm thời. Cho vay ứng trước trong phương thức nhờ thu có thể xem như chiết khấu từng phần. - Cho vay ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ: Tín dụng chứng từ phục vụ đặc biệt cho việc đảm bảo nhiệm vụ cung ứng và thanh toán trong quan hệ ngoại thương nhưng nó cũng bao hàm cả các nhân tố tín dụng.
Cho vay ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng với L/C điều khoản đỏ. Đây là loại thư tín dụng quy định một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu vào một thời điểm xác định, trước khi xuất trình bộ chứng từ hàng hoá. Các điều khoản ứng trước thường được quy định trong một điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện. Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận cấp cho nhà xuất khẩu một khoản tín dụng trước khi giao hàng.
Nhà xuất khẩu chịu chi phí liên quan còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trước này. Ø Tín dụng xuất khẩu bao thanh toán: Theo quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Ngân hàng Nhà nước thì tín dụng xuất khẩu bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng (người xuất khẩu) thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng. Luan van 11 Tín dụng bao thanh toán cho doanh nghiệp xuất khẩu thực chất là hình thức mua bán nợ của ngân hàng và doanh nghiệp xuất khẩu. Nội dung hoạt động tín dụng bao thanh toán cho doanh nghiệp xuất khẩu gồm: cung cấp tín dụng, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và thực hiện việc thu tiền khi đến hạn.
Cho vay đối với doanh nghiệp nhập khẩu Các ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp nhập khẩu vay để thực hiện các nghĩa vụ của mình trong trong các hợp đồng thương mại quốc tế, với các hình thức cho vay như: cho vay mở thư tín dụng, chấp nhận hối phiếu, cho vay thấu chi,. Ø Cho vay mở thư tín dụng (L/C): Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng phù hợp với những nội dung của L/C. Ưu điểm của cho vay ký quỹ để mở L/C là đáp ứng vốn kịp thời cho hoạt động nhập khẩu. Tuy nhiên, hình thức cho vay này cũng có rủi ro vì cho vay trên cơ sở chứng từ chứ không căn cứ trên hàng hóa, nếu hàng hóa kém giá trị hay hư hỏng thì ngân hàng bị tổn thất.
Ø Tín dụng chấp nhận hối phiếu: Tín dụng chấp nhận hối phiếu là hình thức tín dụng được thực hiện trên cơ sở ngân hàng ký hợp đồng tín dụng với doanh nghiệp nhập khẩu, trong đó các ngân hàng ký cam kết chấp nhận các hối phiếu mà khách hàng của mình phải thanh toán. Hình thức tín dụng này đảm bảo cho doanh nghiệp nhập khẩu thanh toán khi đến hạn. Đối với ngân hàng kể từ khi ký chấp nhận hối phiếu cũng chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu người mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, nếu đến thời hạn thanh toán người mua có đủ tiền thì ngân hàng có thể không phải ứng tiền ra.
Như Luan van 12 vậy, khoản tín dụng chỉ là hình thức, một sự đảm bảo tài chính. Lúc này ngân hàng nhận được một khoản phí chấp nhận, nó là khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh chịu rủi ro của ngân hàng. Ø Cho vay ứng trước cho nhà nhập khẩu: Cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu cũng rất cần được cho vay theo hình thức ứng trước của ngân hàng. Đó là khi họ cần phải thanh toán tiền mặt cho nhà xuất khẩu, hoặc khi mà hàng hóa chưa về đến cảng và doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hóa để thu hồi vốn.
Ø Cho vay doanh nghiệp nhập khẩu theo hạn mức: Ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp nhập khẩu để thanh toán tiền hàng trong thời gian từ khi phải trả tiền hối phiếu đến khi tiêu thụ được hàng hoặc bán được sản phẩm sản xuất do sử dụng đầu vào nhập khẩu đó. Hình thức cho vay này gắn với chứng từ hàng hóa nhập khẩu nên ngân hàng thường chi phối bộ chứng từ và hàng hóa để giảm thiểu rủi ro. KHÁI NIỆM RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái niệm và đặc điểm rủi ro cho vay doanh nghiệp XNK a.