CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Có nhiều các khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại, tùy thuộc vào pháp luật và tập quán của các ngân hàng tại nước đó, ví dụ như: Ở Mĩ: “ Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.” Ở Pháp: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng năm 2017 khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã xác định "tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán" và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì "ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán". Với định nghĩa trên, đã khái quát toàn bộ những đặc trưng của ngân hàng thương mại tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh thêm trong khái niệm rằng: 3 “Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội” 1. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có các hoạt động chủ yếu như sau: * Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động cơ bản đầu tiên và quan trọng của một Ngân hàng thương mại.
Có rất nhiều hình thức huy động vốn trên thị trường, một trong các nguồn vốn huy động quan trọng nhất là các khoản tiền gửi. Ngân hàng thương mại nhận được các khoản tiền gửi từ khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác, Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của các cá nhân, của các tổ chức kinh tế và Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng là đến rút tiền ở Ngân hàng. Qua hoạt động này Ngân hàng thương mại đã thu hút một lượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi để phục vụ cho các hoạt động của mình như hoạt động cho vay và thông qua đó cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. * Hoạt động cho vay và đầu tư Trên cơ sở số lượng vốn huy động được, Ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động tín dụng như cho vay, bảo lãnh, mở LC,…và đầu tư Hoạt động cho vay và đầu tư là hoạt động kinh doanh chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các Ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.
Trong nghiệp vụ này, Ngân hàng thương mại thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. 4 * Cung cấp các dịch vụ tài chính khác - Hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ: Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ là việc ngân hàng thương mại tham gia kinh doanh ngoại tệ trên thị trường hối đoái với tư cách kinh doanh cho khách hàng (ngân hàng hưởng phí dịch vụ) và kinh doanh cho chính bản thân ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trường giao ngay hay thực hiện các giao dịch mua bán kỳ hạn các loại ngoại tệ và hưởng phí dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại tệ thường gặp phải rủi ro hối đoái, là tình trạng có thể bị tổn thất vốn do biến động tỷ giá. Để hạn chế rủi ro, các ngân hàng thương mại thường đưa ra các giải pháp nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng bảo đảm,.
Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ là việc ngân hàng thương mại tham gia kinh doanh ngoại tệ trên thị trường hối đoái với tư cách kinh doanh cho khách hàng (ngân hàng hưởng phí dịch vụ) và kinh doanh cho chính bản thân ngân hàng. - Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Ngân hàng thương mại thực hiện việc cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán theo yêu cầu của cá nhân và doanh nghiệp. Thanh toán qua ngân hàng với những lợi ích như an toàn, nhanh chóng, tiết kiệm chi phí đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. Điều này khuyến khích các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán.
Đồng thời ngân hàng cũng thu được phí từ hoạt động này. Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn thực hiện cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý,… 5 1. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và vai trò hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về vốn huy động và hoạt động huy động vốn - Vốn huy động: Là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút. Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương maị. Vốn huy động không ngừng tăng lên, các ngân hàng luôn quan tâm khai thác để mở rộng nguồn huy động. Nhưng nguồn vốn này chỉ được sử dụng một phần để kinh doanh, còn phải dự trữ một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán.
Vốn huy động gồm có: Vốn tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá. - Hoạt động huy động vốn: Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng với sự phát triển của các ngân hàng thương mại, nội hàm của khái niệm hoạt động huy động vốn đã có những thay đổi rất đáng kể, cả về quy mô và các hình thức thể hiện. Hơn nữa, gần như không tìm được một định nghĩa hoàn thiện về hoạt động này cũng như không có được sự thống nhất hoàn toàn giữa các quan điểm. Đặc biệt, là sự khác biệt trong cách hiểu khi đề cập vấn đề này dưới các khía cạnh khác nhau.
Phổ biến nhất là việc sử dụng thuật ngữ này trong các khía cạnh không chuyên, đặc biệt là ngôn ngữ thường nhật của xã hội và báo chí. Khái niệm huy động vốn được sử dụng ở đây với hoạt động 6 của các ngân hàng thương mại có thể nói là hẹp và không rõ ràng nhất, trong nhiều trường hợp có sự không thống nhất trong nội hàm của bản thân khái niệm. Nhưng nhìn chung, phố biến nhất, khái niệm này được dùng chủ yếu đề cập đến mọi hoạt động đặc trưng nhất của các ngân hàng thương mại, đó là nhận tiền gửi và dưới các hình thức cơ bản nhất, cụ thể là nhận tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi có và không có kỳ hạn khác. Mục tiêu của hoạt động huy động vốn Mục tiêu trong hoạt động huy động vốn là cơ sở cho việc đề ra kế hoạch và chiến lược về nguồn vốn của Ngân hàng.
Như trên chúng ta đã nghiên cứu, nguồn vốn của Ngân hàng khá đa dạng, bao gồm nhiều thành phần. Một số thành phần không ổn định nhưng có khả năng giao dịch cao và lãi suất thấp. Ngược lại một số thành phần hạn chế khả năng phát hành Séc, có tính ổn định cao nhưng lãi suất cao. Do đó chi phí vốn, cơ cấu vốn, tính chất ổn định, thời hạn của nguồn vốn là nhân tố quan trọng đánh giá chất lượng nguồn vốn và là mục tiêu mà các Ngân hàng đều hướng tới.
Đây là những yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu vừa an toàn vừa có lợi nhuận cao của Ngân hàng. Một là: Tìm kiếm nguồn vốn rẻ. Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất trong các chi phí của Ngân hàng. Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn và trả lãi trái phiếu và kỳ phiếu.
Định kỳ Ngân hàng lập biểu về số dư và lãi suất tương ứng để xác định vốn huy động bình quân và tính toán chi phí trả lãi. Thông thường có ba cách trả lãi : Trả lãi trước, trả lãi khi đến hạn và trả lãi nhiều lần theo định kỳ. Mỗi cách trả lãi khác nhau sẽ ảnh hưởng đến chi phí khác nhau. Quản lý chi phí trả lãi là hoạt động thường xuyên và quan trọng của các Ngân hàng.
Mỗi sự thay đổi về lãi suất hay cơ cấu nguồn vốn đều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân hàng. Việc tính chi phí của từng nguồn vốn cụ thể cho phép các nhà quản lý xác 7 định nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay đổi lãi suất hay không, thu nhập từ tài sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn tăng thêm hay không. Về nguyên tắc, những nguồn vốn có thời hạn càng ngắn và tính ổn định thấp thì chi phí nguồn vốn cũng phải thấp tương ứng. Tuy nhiên nguồn rẻ thì lại đồng nghĩa với giảm tính cạnh tranh của Ngân hàng.
Tính chi phí một cách chính xác cho phép Ngân hàng chủ động lựa chọn những nguồn vốn khác nhau và đảm bảo doanh thu đủ bù đắp chi phí và đem lại tỷ lệ thu nhập mong đợi.