phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Huy động vốn ngắn hạn trong hoạt động Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng huy động vốn ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ. Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN NGẮN HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về nguồn vốn và huy động vốn ngắn hạn của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về hoạt động ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại a) Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) đã có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính quan trọng nhất.
NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm cầu nối giữa huy động vốn và cho vay vốn trong nền kinh tế. Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về NHTM. Ở Mỹ: “Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. 6 Từ những quan điểm và quy định trên có thể tổng quát: NHTM là một tổ chức tín dụng kinh doanh và cung ứng thƣờng xuyên đa dạng các dịch vụ tài chính nhƣ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. b) Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại +) Nhận tiền gửi Đây là hoạt động cơ bản của NHTM, Ngân hàng nhận đƣợc các khoản tiền gửi từ khách hàng dƣới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác.
Ngân hàng nhận tiền gửi của các cá nhân, của các tổ chức kinh tế và Ngân hàng phải hoàn trả gốc và l cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng là đến rút tiền ở Ngân hàng. Qua hoạt động này Ngân hàng đã thu hút một lƣợng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi để phục vụ cho các hoạt động của mình nhƣ hoạt động cho vay và thông qua đó cung cấp phƣơng tiện thanh toán cho nền kinh tế. +) Hoạt động tài trợ của NHTM Trên cơ sở lƣợng tiền gửi từ nền kinh tế mà Ngân hàng đã tiếp nhận và quản lý đƣợc sau khi trừ đi phần dự trữ cần thiết theo qui định, phần còn lại sẽ đƣợc Ngân hàng sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. Do tính đa dạng của khách hàng và nhu cầu phong phú về phƣơng thức sử dụng tiền tài trợ của khách hàng nên Ngân hàng đã thiết lập và xây dựng các phƣơng thức tài trợ khác nhau.
* Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ Khả năng huy động và cho vay với khối lƣợng lớn của Ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của Chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn của Chính phủ và thƣờng là cấp bách trong khi thu không đủ chi hoặc thu chƣa đủ thì Chính phủ các nƣớc đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Phƣơng thức đƣợc sử dụng nhiều nhất là Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ mua bán tín phiếu, trái phiếu hoặc làm đại lý phát hành các giấy tờ có giá cho 7 Chính phủ, qua nghiệp vụ này một mặt vừa thực hiện nghĩa vụ với nhà nƣớc mặt khác vừa đem lại thu nhập cho Ngân hàng. * Tài trợ cho nền kinh tế Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì vấn đề sống còn là phải có nguồn lực tài chính đủ mạnh, trƣớc hết là dể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mặt khác là để mở rộng qui mô và tham gia cạnh tranh để đứng vững trong nền kinh tế thị trƣờng.
Nguồn lực này ngoài nguồn vốn tự có của các Doanh nghiệp (thƣờng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ), thì phần lớn các doanh nghiệp đều phải dựa và nguồn vốn tín dụng Ngân hàng. Tuỳ theo nhu cầu và loại hình kinh doanh mà Ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng theo các phƣơng thức khác nhau trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn do Ngân hàng đƣa ra. Khi thực hiện nghiệp vụ này thì nó đem lại lợi nhuận rất lớn cho Ngân hàng và đây là nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng. Đây là phƣơng thức phổ biến nhất trong hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với khách hàng.
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn kéo dài trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng và khách hàng đi thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê các bên không đƣợc đơn phƣơng hủy bỏ hợp đồng. Hình thức này giúp ngƣời thuê có ngay tài sản có giá trị lớn để phục vụ cho sản xuất nhƣng ng các hình thức vay khác.
Góp vốn đầu tƣ: Là hình thức Ngân hàng cùng với một số đối tác cùng góp vốn để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh. Có thể là hình thức đầu 8 tƣ trực tiếp hoặc đầu tƣ gián tiếp, và Ngân hàng đƣợc hƣởng quyền lợi và nghĩa vụ nhƣ một cổ đông thƣờng. Mua nợ: Ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng thông qua việc mua lại các khoản nợ, hay chiết khấu các chứng từ có giá. +) Mua bán ngoại tệ Đây là hình thức Ngân hàng làm trung gian trong việc chuyển đổi các đồng tiền của các quốc gia với nhau theo nhu cầu của khách hàng dựa trên tỷ giá mua bán các đồng tiền đó với nhau.
Qua hoạt động này Ngân hàng thu đƣợc lợi nhuận từ chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán. Số lƣợng ngoại tệ mà Ngân hàng mua đƣợc có thể dùng để cho vay đối với các khách hàng có nhu cầu vay bằng ngoại tệ hoặc dùng để thanh toán trong các giao dịch bằng ngoại tệ. +) Các dịch vụ của Ngân hàng - Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán hộ. Thông qua việc thu hút khách hàng (Cá nhân hoặc tổ chức) mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng, Ngân hàng sẽ quản lý tài khoản của khách hàng và tiến hành chi trả tiền hàng hóa dịch vụ cũng nhƣ thu hộ các khoản phải thu của chủ tài khoản theo lệnh của họ.
Thực hiện nghiệp này một mặt Ngân hàng giúp khách hàng giảm bớt đƣợc chi phí trong quá trình thanh toán, mặt khác Ngân hàng tập trung đƣợc một lƣợng tiền lớn trong nền kinh tế để sử dụng cho các hoạt động của mình. - Bảo quản vật có giá. Đây là một dịch vụ mang lại thu nhập khá cao cho các Ngân hàng. Trên thế giới dịch vụ này rất phát triển.
Nội dung của nghiệp vụ này là các Ngân hàng cho khách hàng thuê két của Ngân hàng để bảo quản tài sản của mình và thu phí từ hoạt động cho thuê đó. - Dịch vụ bảo lãnh. Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của các tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng 9 khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Muốn vay khách hàng phải có đƣợc sự đồng ý của Ngân hàng, nó phải tuân theo một qui trình bảo lãnh riêng.
Khi Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng thì Ngân hàng đƣợc hƣởng một khoản phí gọi là phí bảo lãnh, mức phí này tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của từng hợp đồng bảo lãnh. - Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tƣ vấn đầu tƣ. Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính vì vậy có rất nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ Ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Ngân hàng sẵn sàng tƣ vấn về đầu tƣ, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tƣ chứng khoán. Với trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng các thông tin về chứng khoán và đầu tƣ chứng khoán nhƣ các danh mục đầu tƣ, quản lý tài khoản, mua bán hộ, bảo quản chứng khoán… - Cung cấp dịch vụ đại lý. Nhiều Ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi, nhiều Ngân hàng (thƣờng là các Ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác nhƣ thanh toán hộ, phát hành chứng chỉ tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ… 1. Chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại a) Chức năng của Ngân hàng thương mại +) Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối để dẫn vốn giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn.