Chương 1: “Lý luận chung về hợp tác khoa học công nghệ quốc tế đối với cơ quan nhà nước.” Chương 2: “Thực trạng hợp tác khoa học công nghệ quốc tế của Bộ Khoa học và công nghệ, CHDCND Lào giai đoạn 2014-2018.” Chương 3: “Một số giải pháp tăng cường hợp tác khoa học công nghệ quốc tế của Bộ Khoa học và công nghệ, CHDCND Lào đến năm 2025.” 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƢỚC” 1. Tổng quan về hợp tác khoa học công nghệ quốc tếđối vớicơ quan nhà nước 1. Khái niệm hợp tác khoa học công nghệ quốc tếđối vớicơ quan nhà nước “ ” “Hội nhập quốc tế đang diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày một gia tăng. Đây là quá trình tìm kiếm lợi ích trong khuôn khổ hợp tác và cạnh tranh giữa các tổ chức nói chung và cơ quan nhà nước nói riêng đặc biệt là cơ quan nhà nước trong các nước đang phát triển.
Trong quá trình đó, bên cạnh những lợi thế có được từ việc mở rộng quan hệ, tiếp thu kinh nghiệm, tìm kiếm đối tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước tiên tiến và các tổ chức quốc tế, các cơ quan nhà nước của các nước đang phát triển cũng gặp không ít khó khăn, thách thức về thị trường, vốn, trình độ quản lý, trình độ khoa học công nghệ, buộc phải nhanh chóng đổi mới một cách toàn diện cả về phương thức lãnh đạo, quản lý, xây dựng định hướng, chiến lược phát triển KT-XH để rút ngắn khoảng cách phát triển. Nhận thức được tính tất yếu hội nhập quốc tế đối với công cuộc phát triển đất nước, hầu hết các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển đều tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau.” Trong bối cảnh đó, hội nhập quốc tế về KHCNđã trở thành một yếu tố không “ thể thiếu trong chính sách đối ngoại và chính sách phát triển khoa học công nghệ của mỗi nước và là một thành tố quan trọng trong hội nhập KTQT, một trào lưu phát triển, một hình thức quan hệ giữa các đối tác trên thế giới. Hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ được thể hiện theo 3 hình thức chủ yếu sau : ” - Thứ nhất: “Phối hợp hoạt động nghiên cứu, phát triển KHCN toàn cầu hoặc trong khu vực, theo nguyên tắc phát huy ưu thế từng nước và hợp lý hoá để đem lại hiệu quả cao nhất;” - Thứ hai: “Quản lý hoạt động khoa học công nghệ toàn cầu hoặc trong khu 8 vực, sử dụng những phương thức tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ theo nguyên tắc mở, trong đó các nước tham gia phải tuân thủ các quy chế, thể thức, tiêu chuẩn chung;” - Thứ ba:“Thường xuyên trao đổi, hợp tác khoa học công nghệ theo các chuẩn mực chung của thế giới, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; cùng với đóđóng góp nguồn lực và chia sẻ lợi ích theo các cam kết cùng thoả thuận.” Ngày nay, quan hệ quốc tế về khoa học công nghệ vừa mang tính hợp tác vừa mang tính cạnh tranh, nên về thực chất hợp tác quốc tế chính là một biểu hiện của hội nhập quốc tế của các tổ chức, nhằm vào những mục tiêu như: phát triển KHCN, giao lưu trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vực thuộc ngành KHCN, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ, thu hút nguồn viện trợ từ quốc tế, liên kết nghiên cứu. “Ðiều trên,đòi hỏi các quốc gia, các tổ chức, cá nhân hợp tác, liên kết để tiến hành các nghiên cứu chung nhằm huy động thêm nguồn lực, rút ngắn thời gian, giảm chi phí; tăng cường vai trò, ảnh hưởng;các tổ chức quốc tế và khu vực thực hiện chính sách hợp tác khoa học công nghệ không chỉ để giúp các nước đang phát triển mà còn thông qua đó để tăng cường vai trò, ảnh hưởng của mình; Mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường và tăng lợi nhuận.
Các nước phát triển, các tổ chức khoa học công nghệ trên thế giới mở rộng hợp tác để duy trì, nâng cao vị trí độc quyền, thương mại hóa các thành tựu KHCNcủa mình để mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường và tăng lợi nhuận. Nâng cao khả năng cạnh tranh: Các nhà đầu tư nước ngoài phải đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ, công nhân lành nghề và chuyển giao công nghệ cho nước sở tại. Các nước đang phát triển phải chuẩn bị nguồn lực, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nghiên cứu và đào tạo, hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin – viễn thông, điều chỉnh các quy định pháp lý, chính sách và chiến lược…” Trên thực tế nó rất nhiều quan niệm về khoa học công nghệ: “Khoa học là kiến thức có hệ thống về hiện tương, bản chất và quy luật của tự nhiên và xã hội cả về vật chất và tư duy được chứng minh từ việc thử nghiệm thực tế” và “Công nghệ là quá 9 trình biến tài nguyên thành các sản phẩm để phục vụ cho xã hội bằng việc sử dụng các công cụ, năng lượng, phương tiện, phương pháp và biện pháp sản xuất riêng biệt”. Đến giai đoạn hiện này, trên thực tế cũng như tại CHDCND Lào cũng chưa có định nghĩa rõ ràng và đúng đắn nhất về hợp tác khoa học công nghệ quốc tế của một tổ chức; nhưng tại Luậtkhoa học và công nghệ Lào được ban hành vào năm 2013 đã có một chútnội dung liên quan đến vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vựcKHCN rằng: “ ” “Nhà nước mở rộng quan hệ, hợp tác với nước ngoài, khu vực và quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới bằng việc trao đổi thông tin dữ liệu, bài học kinh nghiệm nghiên cứu, nhà nghiên cứu, nhà khoa học và chuyển giao công nghệ, tổ chức hội chợ, triển lãm, tổ chức hội thảo khoa học các cấp, tranh thủ nguồn hỗ trợ về chuyên môn, vốn cả về việc thực hiện hiệp định và hiệp ước quốc tế mà CHDCND Lào là thành viên”.
“Nhưng dựa trên nội dung nêu trên chúng ta có thể hiểu hợp tác KHCN quốc tế là: sự tương tác giữa người hoặc nhóm người đại diện cho các quốc gia khác nhau trong việc theo đổi mục tiêu hoặc lợi ích chung trong lĩnh vực KHCN; từ đó các thành phần tham gia hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KHCN thường thực hiện các nội dung trong hợp tác quốc tế về KHCN như: giao lưu trao đổi kinh nghiệm, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng và củng cố các văn bản pháp lý, hỗ trợ xây dựng cở sở hạ tầng, tổ chức hội chợ triển lãm, liên kết thực hiện nghiên cứu, chuyển giao thiết bị công nghệ và những nội dung khác mà các bên tham gia hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KHCN cùng quan tâm. Vai trò của hợp tác quốc tế đối với sự phát triển khoa học công nghệ của cơ quan nhà nước Hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với sự phát KHCN của cơ quan nhà “ ” nước, thể hiện một số khía cạnh sau: - Hợp tác quốc tế đóng vai trò đối với việc định hướng phát triển “Hợp tác quốc tế có vai trò quan trọng đối vớiviệc định hướng phát triển khoa học công nghệ của một tổ chứcnói chung và cơ quan nhà nước nói riêng theo hướng hiện đại và tiên tiến hơn, có cơ hội tiếp cận được nền khoa học công nghệ phát triển 10 trên khu vực cũng như thế giới. Thông qua hoạt động hợp tác KHCN quốc tế, các tổ chức có thể rút ra các bài học kinh nghiệm quý báu trong việc đổi mới tư duy về khoa học công nghệ, nâng cao nhận thức, trình độ khoa học công nghệ, phương pháp quản lý, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống KHCN, phối hợp liên kết nghiên cứu, đồng thời tận dụng những thành tựu khoa học công nghệ của khu vực và thế giới để đi tắt đón đầu và từng bước kéo gần khoảng cách giữa KHCNcủa một tổ chứcnói chung và cơ quan nhà nước nới riêng với các tổ chức KHCN trên khu vực và thế giới.” - Hợp tác quốc tế đóng vai tròđối với việc tạo nguồn lực tài chính Việc xây dựng và phát triển KHCNở các nước đang phát triển trong mấy thập “ niên qua chủ yếu dựa vào nguồn lực tài chính của bản thân các nước, các tổ chức hoặc dựa vào vốn vay. Nhưng phần lớn các tổ chức nói chung và cơ quan nhà nước nói ” riêngvẫn dựa vào nguồn lực tài chính nội bộ từ nguồn ngân sách nhà nước và thu hút “ nguồn viện trợ không hoàn lại từ các nước, tuy hợp tác giữa các quốc gia và các cơ quan ” để phát triển khoa học công nghệ có ý nghĩa rất quan trọng, song có lẽ không nên mong “ đợi sự “cho không” nào cả nếu muốn bảo vệ tính chính trực của nền khoa học công nghệ ” quốc gia nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của đất nước.
“Tuy nhiên, cần có một cái nhìn động về vấn đề nguồn lực tài chính. Tuy nguồn vốn ban đầu nhằm xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng và tạo lập bộ máy nhân sự là rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa là khả năng tạo ra nguồn lực tài chính bảo đảm cho các hoạt động của tổ chức hay cơ quan nhà nướctrung hạn và dài hạn. Các cơ quan nhà nước cần được sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước nhưng nó cũng được mong đợi là sẽ kiến tạo ra những tri thức khoa học công nghệ mang lại nguồn tài chính cho cải thiện năng lực KHCN của cơ quan nói chung và quốc gia nói riêng. Đây là nơi hợp tác quốc tế bắt đầu có vai trò quan trọng.
Chính hợp tác quốc tế sẽ nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu của các cơ quan nhà nước và năng lực ấy sẽ mang lại một nguồn tài chính to lớn thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, xây dựng cở sở hạ tầng, vật chất thiết bị, chuyển giao công nghệ và cung cấp dịch vụ KHCN.” “Thêm nữa, trong công thức thành công của nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng, gồm ba nhân tố chủ yếu: nguồn lực con người, nguồn lực tài chính,cơ chế 11 quản lý và cơ sở hạ tầng thiết bịthì các yếu tố này không độc lập mà có tương tác và phục thuộc lẫn nhau, tức có thể bù đắp hoặc triệt tiêu lẫn nhau.