Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÍ TRONG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG 1. Cơ sở lý luận về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông 1. Khái niệm quản lí nhà nước về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông 1. Quản lí Quản lí là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình hoạt động xã hội.
Trong hoạt động quản lí, phải có chủ thể quản lí, và ít nhất một đối tượng quản lí, gián tiếp hay trực tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lí. Hoạt động quản lí là một quá trình bao gồm nhiều hành động khác nhau, có tính liên tục để đạt được kết quả mà chủ thể đặt ra mục tiêu cần hướng tới. Để tồn tại và phát triển, quản lí cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội. Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động quản lí, như Trần Đại Quang và Nguyễn Xuân Yêm (2015, tr.45) đã lí giải: “Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí đến đối tượng và khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”.
Muốn “tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích”, người làm quản lí phải thực hiện hoạt động quản lí gồm 4 khâu quan trọng là: Lập kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân lực cho phù hợp với thực tiễn; kiểm tra, kiểm soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Hoạt động quản lí được thể hiện trong 5 thành tốt sau: Chủ thể quản lí, khách thể quản lí, mục đích quản lí, công cụ quản lí, cách thức quản lí. Khái niệm quản lý đảm bảo trật tự ATGT: Hoạt động QLNN nói chung và QLNN trong một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau. Phổ biến là quản lý bằng phương pháp hành chính, phương pháp kế hoạch chính sách, phương pháp kinh tế và phương pháp tư tưởng.
Nhưng tựu chung, Nhà nước nào cũng dùng pháp luật như một công cụ, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 là chuẩn mực khách quan để đánh giá hiệu lực, hiệu quả của QLNN, đồng thời là phương pháp chủ yếu để quản lý xã hội. Tuy nhiên, pháp luật không phải là tuyệt đối, do vậy không được tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật trong QLNN. QLNN về trật tự ATGT là hoạt động mang tính chất quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập, duy trì và ổn định các quan hệ về giao thông, theo quy định của pháp luật về trật tự ATGT (Trần Văn Luyện, Trần Sơn, Nguyễn Văn Chính, 2003). Đây là một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnh vực an ninh, trật tự.
Bởi vì, TNGT hàng ngày vẫn xảy ra đã và đang là một hiểm họa không chỉ đối với nước ta mà còn là hiểm họa chung đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. QLNN về trật tự ATGT được tiến hành trên các lĩnh vực: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự ATGT; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông nói chung và từng lĩnh vực cụ thể của giao thông nói riêng; quản lý quy tắc giao thông; quản lý kết cấu hạ tầng giao thông; quản lý phương tiện tham gia giao thông; quản lý người điều khiển phương tiện giao thông; quản lý vận tải các loại hình giao thông; thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm giao thông; chỉ huy điều khiển giao thông và điều tra, xử lý TNGT. QLNN về trật tự ATGT là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự ATGT. QLNN về trật tự ATGT được thực hiện bởi cơ quan hành chính nhà nước, do đó cũng phải tuân theo những nguyên tắc sau: (1) các nguyên tắc chính trị - xã hội, gồm nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; (2) các nguyên tắc mang tính tổ chức, gồm nguyên tắc quản lý theo địa phương, nguyên tắc quản lý theo ngành, nguyên tắc quản lý theo chức năng, nguyên tắc phối hợp quản lý liên ngành.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đối tượng của QLNN về trật tự ATGT cũng hết sức đa dạng và phong phú, song như trên đã phân tích, về thực chất, đối tượng của quản lý ở đây cũng chính là con người trong việc thực hiện các nguyên tắc nhằm bảo đảm trật tự ATGT đường bộ, các hành vi nghiêm cấm, cụ thể: Về phương tiện tham gia giao thông: điều kiện tham gia giao thông của các phương tiện; cấp, thu hồi đăng ký và kiểm soát các phương tiện; bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của các phương tiện tham gia giao thông. Về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông: điều kiện của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; giấy phép điều khiển phương tiện; tuổi và sức khỏe của người điều khiển phương tiện; đào tạo, sát hạch để cấp giấy phép điều khiển phương tiện. Về quy tắc trật tự ATGT: gồm các quy tắc chung, hệ thống báo hiệu, các hoạt động khác trong quá trình tham gia giao thông; sử dụng hạ tầng cơ sở vật chất; tổ chức giao thông và điều khiển giao thông; trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra TNGT. Khách thể của QLNN về trật tự ATGT ở đây chính là “cái” mà chủ thể quản lý dự định trước và hướng toàn bộ quá trình quản lý vào đó.
Có thể thấy, khách thể của QLNN về trật tự ATGT chính là trật tự quản lý được thiết lập trên lĩnh vực đó, nhằm mục đích đảm bảo phục vụ hoạt động xã hội và hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế và xã hội. Từ sự phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước về trật tự ATGT là toàn bộ hoạt động có tổ chức, có định hướng, mang tính quyền lực của nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các quy định về trật tự ATGT, thiết lập, duy trì trật tự ATGT, xây dựng văn hóa giao thông, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiệu lực QLNN Hiệu lực thể hiện công lực, sức mạnh của sự tác động, điều khiển hay định hướng mục tiêu của chủ thể điều khiển tới các đối tượng bị điều khiển.
Hiệu lực quản lý nhà nước chính là công lực nhà nước thể hiện quyền lực của bộ máy nhà nước chi phối xuống các đối tượng bị quản lý trong hệ thống bằng những công cụ pháp lý, chính sách, quyết định phù hợp với những quy luật khách quan nhằm đạt mục tiêu quản lý và thỏa mãn nhu cầu thực tiễn xã hội. Trong phạm vi nhất định, hiệu lực quản lý của nhà nước thể hiện tập trung trong việc hoạch định chính sách, quyết định quán xuyến hoạt động thực thi một cách nghiêm ngặt theo khuôn khổ nhất định nhằm đạt mục tiêu quản lý như mong muốn. Như vậy, hiệu lực quản lý của nhà nước liên quan tới nhiều khâu cơ bản trong chu trình quản lý, gồm: (i) con người với tư cách nhân vật trọng tâm trong các khâu của chu trình (ii) nội dung chính sách, quyết định gắn với thực tiễn, (iii) cơ chế, công cụ và tiền đề kinh tế - kỹ thuật bảo đảm hoạt động thực thi và giám sát, xử lý. Cần phải nhận thức rằng các chính sách, quyết định là kết quả nhận thức các quy luật và vận dụng các quy luật, đặc biệt những quy luật kinh tế để quản lý nền kinh tế vận động theo một định hướng, mục tiêu đã lựa chọn hay đáp ứng tốt những nhu cầu thực tiễn đòi hỏi.
Khả năng nhận thức ảnh hưởng quyết định tới chất lượng chính sách, quyết định. Tức là, mục tiêu quản lý của nhà nước sẽ được hiện thực hóa trên cơ sở biết vận dụng phù hợp các quy luật thị trường. Nếu chỉ đưa ra chính sách, quyết định đúng đắn thì chưa đủ phản ánh hiệu lực quản lý nhà nước. Năng lực quản lý nhà nước còn thể hiện ở việc lựa chọn thời điểm và quá trình kinh tế - xã hội phù hợp để đưa chính sách vào cuộc sống một cách tốt nhất, thỏa mãn những yêu cầu thực tiễn đang đòi hỏi.
Một trong những điểm mấu chốt của hiệu lực quản lý là xác định đúng và đầy đủ những điều kiện để hiện thực hóa chính sách, quyết định phù hợp với hoàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cảnh cụ thể. Nói cách khác, “khả năng thanh toán” của chính sách, quyết định là tiền đề tiên quyết bảo đảm tính hiệu lực quản lý của nhà nước. Tức là, các chính sách, quyết định quản lý cần phải xây dựng dựa trên những nền tảng cơ sở kinh tế - kỹ thuật hiện thực chứ không phải dựa trên những “cái vô hư, không khí”. Nếu thiếu những tiền đề đó, mọi quyết định hay chính sách chỉ là suông, “hô khẩu hiệu” mà không bao giờ trở thành hiện thực.
Rõ ràng, mục tiêu chính sách, quyết định cần phải dựa trên những nghiên cứu khoa học tin cậy, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn kinh tế - xã hội, không thể duy ý chí. Bộ máy quán xuyến toàn bộ chu trình quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định tính hiệu lực của hệ thống quản lý nhà nước. Về lý thuyết, hai mối tương quan quản lý thuận - nghịch cần được vận hành trôi chảy, nhất quán đối với từng mắt xích thông tin quản lý bởi đội ngũ công chức chuyên môn sâu, công tâm và trách nhiệm cao. Dòng thông tin thuận từ trung tâm trên xuống bảo đảm mệnh lệnh điều khiển hành vi tuân thủ và giám sát, điều chỉnh.
Dòng thông tin nghịch từ dưới lên phản ánh sự phản hồi, kết quả thực thi mệnh lệnh. Những dòng thông tin quản lý này đòi hỏi chính xác, công khai, minh bạch và dân chủ. Việc đánh giá và xem xét lại thường xuyên những dòng thông tin quản lý là cần thiết nhằm có những điều chỉnh kịp thời, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội.