Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ văn học Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hà (người hướng dẫn khoa học: PGS. Lê Tú Anh; cơ sở đào tạo: Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa, năm 2021; mã số chuyên ngành: 9 22 01 21) tập trung nghiên cứu diện mạo, đặc điểm thi pháp và thành tựu của thể loại tản văn trong nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tản văn vốn có mặt từ những chặng đầu của văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX (với Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Trác, Đạm Phương...). Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, đặc biệt là giai đoạn 1945–1986, ý thức cá nhân phải nhường chỗ cho ý thức cộng đồng phục vụ hai cuộc kháng chiến, khiến tản văn hầu như vắng bóng. Thậm chí, từng có quan niệm xem tản văn chỉ là những ghi chép tản mạn của các cây bút nghiệp dư. Từ sau cột mốc Đổi mới năm 1986, cùng với sự dân chủ hóa đời sống văn học và sự trỗi dậy của báo chí truyền thông, tản văn đã hồi sinh mạnh mẽ, bước vào giai đoạn khởi sắc ở cuối thế kỷ XX và bùng nổ thành "thời của tản văn" trong thế kỷ XXI. Mặc dù thực tiễn sáng tác rất sôi động, giới nghiên cứu lý luận văn học vẫn chưa có công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn diện về diện mạo và đặc trưng thi pháp của thể loại này từ năm 1986 đến nay.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Nhận diện, phân tích, luận giải diện mạo, đặc điểm, thành tựu và đóng góp của tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay; từ đó làm rõ vai trò, vị thế của tản văn trong đời sống văn học cũng như đời sống văn hóa tinh thần của xã hội.
  2. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm, diện mạo, thành tựu của tản văn từ năm 1986 đến nay, thông qua những trường hợp tiêu biểu, luận án góp phần làm rõ hơn những đặc trưng của thể tản văn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu quan niệm về thể tản văn và lịch sử nghiên cứu tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay làm cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
  2. Nghiên cứu bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa như là điều kiện cho sự vận động và phát triển của tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay, từ đó định hình diện mạo của thể loại này.
  3. Nghiên cứu hình tượng nghệ thuật trong tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay qua cái tôi tác giả và bức tranh đời sống nhằm làm rõ cái nhìn về thế giới và con người.
  4. Nghiên cứu tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay trên các phương thức, phương tiện biểu hiện về kết cấu, chi tiết, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật, từ đó khẳng định đóng góp về thủ pháp nghệ thuật của các sáng tác tiêu biểu.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu chính: Diện mạo, đặc điểm, thành tựu của tản văn từ sau năm 1986 cho đến nay.
  • Phạm vi tư liệu: Luận án thống kê và khảo sát danh mục gồm 174 tuyển tập tản văn xuất bản trong giai đoạn 1986–2021 (trình bày tại phần Phụ lục). Trong đó, tác giả tập trung khảo sát các cây bút tiêu biểu thành danh từ cuối thế kỷ XX tiếp tục viết (Y Phương, Băng Sơn, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Thiều, Cao Huy Thuần, Nguyễn Nhật Ánh, Phan Vàng Anh, Hoàng Việt Hằng, Dạ Ngân, Lê Giang...); các tác giả nổi danh đầu thế kỷ XXI (Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn, Nguyễn Trương Quý, Mai Lâm, Đỗ Bích Thúy, Huỳnh Như Phương...); đồng thời liên hệ tới các cây bút trẻ (Hamlet Trương, Iris Cao, Phan Ý Yên, Uông Triều, Anh Khang, Minh Nhật, Phan Ngọc Thạch, Hạ Vũ...).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống tư liệu lý thuyết và lịch sử nghiên cứu tản văn qua các khu vực văn hóa:

  • Tại Trung Quốc: Tản văn có lịch sử hơn 2000 năm. Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long chia thành "văn" (vận văn) và "bút" (tản văn); Đàm Gia Kiện trong Trung Quốc cổ đại tản văn sử cảo nhấn mạnh đặc trưng chữ "tản" (tản mà không loạn); Du Quốc Ân trong Trung Quốc văn học sử xác định tản văn tồn tại từ thời Tần Hán; Lỗ Tấn đồng nhất tản văn và tạp văn thời kỳ Ngũ Tứ; Chu Tác Nhân (1921) xác nhận vị trí độc lập của tản văn nghệ thuật; Vương Kiến Huy trong Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc và giáo trình Lý luận văn học của Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến phân tích đặc tính "tình cảm phát", tính tự do và hàm súc của thể loại.
  • Tại phương Tây: Aristotle (Nghệ thuật thi ca) chia tác phẩm thành tự sự, trữ tình, kịch. Năm 1580, Michel de Montaigne (1533–1592) khai sinh thể loại qua tập Essais (Đặng Thai Mai dịch là Thí luận, tiêu biểu với tiểu luận số 30 Của người ăn thịt người), mở đường cho các tác giả như Denis Diderot, Voltaire, Doris Lessing, Francis Bacon, Blaise Pascal.
  • Tại Việt Nam: Thời trung đại, Bùi Huy Bích biên soạn Hoàng Việt văn tuyển (cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX) xếp tản văn đối lập với vận văn và biền văn; giai đoạn 1930–1945 có Đặng Thai Mai (Văn học khái luận, 1944) và Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, khẳng định Tản Đà mở đường cho tản văn); thập niên 1960–1970 có giáo trình của Nguyễn Lương Ngọc (Mấy vấn đề nguyên lý văn học, chia 4 loại: thơ ca, tiểu thuyết, kịch, tản văn gồm phóng sự, tạp văn, tùy bút); giáo trình của Trần Văn Bính - Nguyễn Xuân Nam - Hà Minh Đức và Hà Minh Đức. Thập niên 1980–1990, giáo trình Lí luận văn học tập 2 của Trần Đình Sử - Phương Lựu - Nguyễn Xuân Nam xếp tạp văn vào ký. Năm 1992, Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại xem tản văn là một tiểu loại của ký có tính chất chấm phá, hàm súc. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học chính thức đưa tản văn thành một mục từ độc lập. Phạm Thành Hưng trong Thuật ngữ báo chí - truyền thông nêu mối quan hệ giữa tản văn và báo chí. Lê Trà My với luận án tiến sĩ Tản văn Việt Nam thế kỉ XX (Từ cái nhìn thể loại) và chuyên khảo Tản văn hiện đại Việt Nam lý thuyết và lịch sử (2014) đã phân loại tản văn (hồi tưởng, triết luận, cảm thời) và nghiên cứu diễn tiến thể loại qua các môi sinh văn hóa. Đỗ Thị Thu Huyền (2016) nghiên cứu ký và tản văn dân tộc thiểu số sau năm 1986. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2020) bảo vệ luận án tiến sĩ về tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Nhiều bài báo khoa học và phê bình của Bảo Ninh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Huy Bính, Trần Công Văn, Hoàng Đức Khoa, Dương Phương Vinh, Đỗ Hoàng Diệu, Thụy Oanh, Phan Huy, Phi Hà, Việt Quỳnh, Mạc Lâm... đã phân tích tác phẩm của từng tác giả cụ thể (Nguyễn Quang Lập, Y Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý...).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đã bước đầu phân tích một số giai đoạn hoặc tác giả riêng lẻ, chưa có công trình nào bao quát trọn vẹn tiến trình vận động lịch sử, phân định các xu hướng nội dung và phân tích hệ thống thi pháp (cái tôi tác giả, bức tranh đời sống, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu) của tản văn Việt Nam trong suốt 35 năm Đổi mới (1986–2021) trên một diện khảo sát quy mô 174 tuyển tập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng khung phân tích thi pháp thể loại làm hướng tiếp cận chính. Thể loại được xem là một đơn vị loại hình cơ bản của quá trình văn học, có thi pháp riêng biểu đạt một loại nội dung hiện thực nhất định. Tác giả dựa vào định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học để xác định tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể mang tính trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật; lối thể hiện mang tính chất chấm phá, phi cốt truyện, có cấu tứ độc đáo, mang đậm dấu ấn cá tính và giọng điệu của tác giả.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Khảo sát mối quan hệ giữa điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội thời kỳ Đổi mới từ sau năm 1986 với sự hình thành, phát triển và nội dung phản ánh của tản văn.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng tác giả, tác phẩm, tuyển tập và phân loại các xu hướng vận động của thể loại.
  • Phương pháp so sánh: Đối sánh các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tản văn sau năm 1986 với tản văn giai đoạn trước năm 1986 để chỉ ra tính kế thừa và những điểm cách tân.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp các tri thức văn hóa học, xã hội học, ngôn ngữ học trong việc tìm hiểu văn hóa vùng miền và các lớp ngôn ngữ nghệ thuật.
  • Các thao tác nghiên cứu hỗ trợ: Phân tích văn bản, tổng hợp và khái quát hóa tư liệu.

Nguồn tư liệu thực tế của luận án là 174 tuyển tập tản văn xuất bản từ năm 1986 đến 2021 cùng các bài viết, chuyên mục tản văn trên các báo, tạp chí và không gian mạng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về thể loại tản văn và lịch sử nghiên cứu thể loại tại Việt Nam. Tác giả phân tích nội hàm khái niệm tản văn từ nghĩa rộng (văn xuôi nói chung, đối lập với vận văn và biền văn thời cổ - trung đại) đến nghĩa hẹp trong văn học hiện đại (thể văn xuôi nghệ thuật ngắn gọn, hàm súc, nằm trong loại hình ký hoặc đứng độc lập bên cạnh thơ, tiểu thuyết, kịch). Luận án xác lập 4 đặc điểm thi pháp cốt lõi của tản văn:

  1. Đa dạng, phong phú về đề tài (bao quát từ thiên nhiên, thế sự, văn hóa, lịch sử đến đời tư).
  2. Không có cốt truyện, kết cấu linh hoạt theo nguyên tắc "hình tản mà thần tụ", dung lượng ngắn gọn, hàm súc.
  3. Biểu hiện trực tiếp và rõ nét cái tôi tác giả theo nguyên tắc tự biểu hiện.
  4. Cách thức biểu đạt tự do, dung hợp linh hoạt các thao tác tự sự, trữ tình, nghị luận và đa dạng hóa chất liệu ngôn từ.

Chương 2. Sự vận động và phát triển của tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương này phân tích các điều kiện chi phối, các chặng đường lịch sử và các xu hướng vận động của tản văn sau năm 1986:

  • Điều kiện khách quan: Quá trình Đổi mới đất nước giải phóng tư duy nghệ thuật, đề cao ý thức cá nhân và tinh thần dân chủ; hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa mở rộng giao lưu văn hóa; sự phát triển của hệ thống truyền thông báo chí và mạng viễn thông toàn cầu (văn bản trích dẫn số liệu tính đến tháng 7/2018 cả nước có 982 cơ quan báo chí, 193 báo in, 639 tạp chí, 159 báo và tạp chí điện tử, 19.166 nhà báo được cấp thẻ).
  • Điều kiện nội tại: Sự kế thừa kinh nghiệm thể loại trước năm 1986 (đặc biệt là mối liên kết giữa tản văn và báo chí); sự gia tăng vượt trội về đội ngũ sáng tác thuộc nhiều ngành nghề (nhà văn, nhà báo, họa sĩ, kiến trúc sư, cây bút nữ, tác giả hải ngoại); sự biến đổi thị hiếu tiếp nhận của độc giả hiện đại ưa chuộng lối viết ngắn gọn, tương tác nhanh.
  • Hai chặng vận động:
    • Chặng từ 1986 đến hết thế kỷ XX: Giai đoạn hồi sinh và khởi sắc với các tác giả tiêu biểu như Hoàng Phủ Ngọc Tường (Nhàn đàm, Người ham chơi), Tô Hoài (Răng sún răng lún, Cái giậm, Cũng là công nghệ dây chuyền), Băng Sơn, Mai Văn Tạo, Mai Ngữ, Vĩnh Quyền, Tạ Duy Anh... Đề tài tập trung vào văn hóa truyền thống, phong tục tập quán, ký ức quê hương và trăn trở thế sự.
    • Chặng từ đầu thế kỷ XXI đến nay: Giai đoạn bùng nổ cực thịnh với sự hậu thuẫn của Internet, mạng xã hội và các xuất bản phẩm của các cây bút trẻ.
Chặng vận động / Xu hướng Thời gian Tác giả & Tác phẩm tiêu biểu Đặc điểm nội dung chính
Chặng 1: Khởi sắc 1986 – hết thế kỷ XX Hoàng Phủ Ngọc Tường (Nhàn đàm), Tô Hoài, Băng Sơn, Mai Văn Tạo, Mai Ngữ, Vĩnh Quyền (Chuyên nghiệp), Tạ Duy Anh... Hồi sinh thể loại; phản ánh vẻ đẹp quê hương, phong tục tập quán, văn hóa cổ truyền, nỗi niềm người cầm bút.
Chặng 2: Bùng nổ Đầu thế kỷ XXI – nay Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà (Con giai phố cổ), Đỗ Phấn, Nguyễn Trương Quý, Đỗ Bích Thúy, Huỳnh Như Phương, Hamlet Trương, Anh Khang... Phát triển mạnh trên báo chí và mạng xã hội; phản ánh đời sống đô thị, tâm lý cá nhân, sự va đập văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Xu hướng Trữ tình 1986 – nay Băng Sơn (Sương mùa), Mễ Thành Thuận (Mùi của ngày xưa), Phan Lạc Nhi, Hoàng Phủ Ngọc Tường... Bộc lộ cảm xúc, hoài niệm tuổi thơ, tình yêu quê hương xứ sở, tiếc nuối các giá trị văn hóa truyền thống.
Xu hướng Tự sự 1986 – nay Tô Hoài, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy... Ghi chép câu chuyện đời thường, khắc họa chân dung nhân vật, tái hiện các mảnh vụn ký ức và sự kiện thế sự.
Xu hướng Chính luận 1986 – nay Hoàng Phủ Ngọc Tường, Mai Ngữ, Vĩnh Quyền, Nguyễn Việt Hà... Bàn luận các vấn đề thời sự, xã hội, đạo đức, nghề văn; phê phán thói hư tật xấu và mặt trái kinh tế thị trường.

Chương 3. Cái tôi tác giả và bức tranh đời sống trong tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 3 tập trung phân tích hình tượng nghệ thuật trung tâm trong tản văn:

  • Cái tôi tác giả:
    • Cái tôi tự biểu hiện: Nhà văn bộc lộ trực tiếp tâm trạng, thế giới nội tâm, ký ức riêng tư và những trải nghiệm cá nhân mà không qua hệ thống nhân vật hư cấu. Sức hấp dẫn nằm ở nhân cách, vốn sống, sự uyên bác và bản lĩnh thẩm mỹ của người viết.
    • Cái tôi tham dự đời sống xã hội: Thể hiện trách nhiệm công dân, nhập cuộc đối thoại với những vấn đề nóng bỏng, bức xúc của đời sống thực tại.
  • Bức tranh đời sống:
    • Bức tranh sinh thái: Miêu tả cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa, mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, phản ánh những tác động của biến đổi môi trường và quá trình đô thị hóa.
    • Bức tranh xã hội: Tái hiện sinh động các phong tục, tập quán, nếp sinh hoạt truyền thống (thú ăn trầu, nhuộm răng, đi chợ Tết, chơi cây cảnh, đốt hương...), không gian văn hóa vùng miền (Hà Nội, Nam Bộ, miền núi phía Bắc) và những mặt trái, xung đột nhân sinh trong xã hội hiện đại.

Chương 4. Kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 4 khảo sát các phương tiện và thủ pháp nghệ thuật:

  • Kết cấu: Tản văn không xây dựng kết cấu theo chuỗi biến cố của cốt truyện mà sắp xếp các chi tiết, hình ảnh xoay quanh một "tín hiệu trung tâm" hoặc một "tứ" nghệ thuật. Kết cấu mang tính tự do, linh hoạt, biến hóa đa dạng nhưng đạt được sự thống nhất bên trong theo nguyên tắc "hình tản mà thần tụ".
  • Ngôn ngữ:
    • Đậm chất khẩu ngữ và phương ngữ: Sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày, ngôn từ đời thường mộc mạc, đậm sắc thái địa phương.
    • Ngôn ngữ mang tính thông tấn, báo chí: Ngắn gọn, cập nhật, phản ánh trực tiếp các sự kiện mang tính thời sự.
    • Ngôn ngữ mang tính chính luận: Sắc bén, chặt chẽ trong lập luận khi mổ xẻ các vấn đề đạo đức, xã hội.
    • Ngôn ngữ mạng: Tiếp thu lớp từ ngữ trẻ trung, linh hoạt, gần gũi với không gian giao tiếp trên Internet.
  • Giọng điệu: Đa thanh và biến hóa linh hoạt, bao gồm giọng điệu trữ tình thủ thỉ, tâm tình; giọng điệu suy tư, triết luận sâu lắng; giọng điệu hài hước, giễu nhại, châm biếm; và khả năng kết hợp, chuyển đổi nhịp nhàng giữa các sắc thái giọng điệu trong cùng một văn bản.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ các đặc trưng thể loại của tản văn trong hệ thống thể loại văn học hiện đại; xác định vị trí độc lập của tản văn trong tương quan với các thể loại thuộc loại hình ký (như tùy bút, bút ký, tạp văn, hồi ký, phóng sự).
  • Về mặt thực tiễn: Luận án phác thảo diện mạo toàn diện, phân kỳ lịch sử phát triển và xác định các xu hướng vận động chính của tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2021; khảo sát và đánh giá thành tựu nghệ thuật của các tác giả tiêu biểu qua 174 tuyển tập xuất bản; khẳng định vai trò của tản văn trong việc dân chủ hóa nền văn học và làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của xã hội thời kỳ Đổi mới.
  • Kiến nghị và đề xuất: Luận án đề xuất giới nghiên cứu, giảng dạy văn học cần nhìn nhận đúng vị thế độc lập của thể loại tản văn trong chương trình đào tạo và lịch sử văn học; đồng thời cần tiếp tục theo dõi, đánh giá chất lượng sáng tác tản văn trong bối cảnh văn học mạng và truyền thông số phát triển ồ ạt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do số lượng tản văn xuất bản trên báo chí, tạp chí và mạng xã hội trong hơn 30 năm qua là vô cùng lớn, luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở 174 tuyển tập in thành sách và một số tác giả tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ mọi sáng tác tản văn phân tán trên các nền tảng số.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu tản văn ở các phân khúc chuyên biệt như tản văn mạng, tản văn của người Việt ở nước ngoài, tản văn của các tác giả dân tộc thiểu số; hoặc vận dụng các khung lý thuyết mới (như phê bình sinh thái, lý thuyết tiếp nhận) để phân tích sâu hơn các hiện tượng tản văn đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học khi tìm hiểu về thể loại ký - tản văn và tiến trình văn học Việt Nam sau năm 1986.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm sử dụng làm tư liệu giảng dạy học phần Văn học Việt Nam hiện đại và Thi pháp thể loại.
  • Các nhà phê bình văn học, biên tập viên báo chí, xuất bản trong việc thẩm định, tuyển chọn và định hướng phát triển cho thể loại tản văn.
  • Các phần đáng tham khảo nhất gồm: Khung lý thuyết phân biệt tản văn với các tiểu loại ký ở Chương 1; Bức tranh phân kỳ và các điều kiện báo chí - truyền thông tác động đến văn học ở Chương 2; Sự phân tích thi pháp ngôn ngữ khẩu ngữ, ngôn ngữ mạng và giọng điệu tản văn ở Chương 4; cùng Danh mục 174 tuyển tập tản văn ở phần Phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định tản văn là một thể loại độc lập hay là một tiểu loại thuộc ký?

Luận án kế thừa quan niệm của Hoàng Ngọc Hiến, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Lê Trà My, khẳng định tản văn là một thể loại văn học độc lập trong hệ thống thể loại văn xuôi hiện đại, đồng thời có mối quan hệ cội nguồn mật thiết với loại hình ký (mang tính chất "đại đồng, tiểu dị" với các thể tùy bút, bút ký, tạp văn).

2. Tiến trình tản văn từ năm 1986 đến nay được phân chia thành mấy chặng?

Luận án chia tiến trình vận động thành 2 chặng chính:

  • Chặng 1 (1986 đến hết thế kỷ XX): Thời kỳ hồi sinh và khởi sắc sau Đổi mới, gắn liền với các chủ đề văn hóa truyền thống, phong tục tập quán và các cây bút như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Hoài, Băng Sơn...
  • Chặng 2 (Đầu thế kỷ XXI đến nay): Thời kỳ bùng nổ cực thịnh ("thời của tản văn"), phát triển mạnh mẽ nhờ công nghệ thông tin, báo điện tử, mạng xã hội với sự tham gia của đông đảo tác giả trẻ.

3. Nguyên tắc cấu trúc "hình tản mà thần tụ" trong tản văn được hiểu như thế nào?

Theo luận án, "hình tản" chỉ phương diện hình thức biểu hiện tự do, không bị bó buộc vào cốt truyện, đề tài và chi tiết có vẻ tản mạn, chấm phá; còn "thần tụ" chỉ sự quy tụ, thống nhất chặt chẽ ở chiều sâu tư tưởng, chủ đề, cảm xúc và thông điệp triết lý xoay quanh một tín hiệu thẩm mỹ trung tâm.

4. Quy mô tư liệu thực tế được khảo sát trong luận án là bao nhiêu?

Luận án khảo sát danh mục gồm 174 tuyển tập tản văn xuất bản từ năm 1986 đến năm 2021, tập trung phân tích tác phẩm của các tác giả tiêu biểu thuộc thế hệ thành danh cuối thế kỷ XX (Y Phương, Băng Sơn, Nguyễn Quang Lập, Tô Hoài, Hoàng Phủ Ngọc Tường...) và thế hệ đầu thế kỷ XXI (Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn, Nguyễn Trương Quý...).

5. Những đặc trưng ngôn ngữ nổi bật nào của tản văn sau năm 1986 được luận án phân tích?

Luận án phân tích 4 đặc trưng ngôn ngữ nổi bật: ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ và phương ngữ đời thường; ngôn ngữ mang tính thông tấn, báo chí ngắn gọn, cập nhật; ngôn ngữ mang tính chính luận sắc bén; và ngôn ngữ mạng linh hoạt, mới mẻ.

Kết luận

Luận án Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay của Nguyễn Thị Hà là công trình nghiên cứu chuyên sâu về một thể loại văn xuôi năng động trong tiến trình văn học Việt Nam đương đại. Bằng việc vận dụng phương pháp thi pháp thể loại kết hợp nghiên cứu lịch sử - xã hội trên mẫu khảo sát 174 tuyển tập, luận án đã phục dựng bức tranh toàn cảnh về sự vận động của tản văn qua hai chặng đường từ khởi sắc đến bùng nổ. Công trình làm sáng tỏ các đặc trưng thẩm mỹ về hình tượng cái tôi tác giả, bức tranh đời sống sinh thái - xã hội, cùng nghệ thuật tổ chức kết cấu "hình tản thần tụ", ngôn ngữ đa phong cách và giọng điệu biến hóa. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị thế độc lập và đóng góp quan trọng của thể tản văn trong tiến trình dân chủ hóa và hiện đại hóa nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới và hội nhập.