Chương 1 TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG NỀN VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn của vùng sông nước miền Tây Nam Bộ 1.Vài nét về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Tác giả Nguyễn Ngọc Tư tên thật là Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, quê quán ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Cuộc sống của chị khá vất vả, không được suôn sẻ và đầy đủ điều kiện như nhiều người. Lên 4 tuổi, gia đình chị chuyển về Cà Mau nhưng chị không được sống với ba mẹ như các anh chị mà ở với ngoại.
Vốn là học sinh giỏi văn của trường Phan Ngọc Hiển, nhưng từ nhỏ chị chưa bao giờ nghĩ mình sẽ là nhà văn. Ngay khi đám bạn cùng lớp bắt đầu tập viết truyện, làm thơ thì chị vẫn “im hơi lặng tiếng”. Chị đã tự nhận rằng: “Trước khi viết truyện ngắn đầu tiên, mình đơn thuần là một cô gái nông dân, bỏ dở học hành, ở nhà nấu cơm nuôi ông ngoại, chăm sóc vườn rau, chiều chiều cắt rau cho má đi bán chợ đêm”[38]. Sinh ra và lớn lên ở miền quê này, cũng từng chịu cảnh khó khăn, phải bỏ học nửa chừng, hơn ai hết, nhà văn thấu hiểu, thông cảm và đau đớn cùng con người ở vùng đất còn xa lạ với cuộc sống công nghiệp hiện đại, không thấy bóng dáng văn minh đô thị, thiếu ánh sáng văn hóa, cuộc sống còn đầy hoang sơ và bản năng.
Cuộc sống của những người lao động xung quanh đã thấm đẫm vào văn của chị, nó là không khí, là không gian quen thuộc khi chị sáng tác. Từ sáng đến tối, tiếng ơi ới của người mua bán trên chợ trước nhà, tiếng còi tàu giục gióng giả từng hồi phía sau, rồi tiếng gò, mài, xi mạ nữ trang của chồng cùng hai người thợ làm công ở gian trước, đã trở thành một thứ âm thanh quen thuộc khi chị ngồi vào bàn viết. Dường như chính những điều đó phần nào đã khu biệt thế giới nhân vật của nhà văn. Đó là thế giới của những người nông dân lam lũ, đói nghèo, những người nghệ sỹ đường phố với số phận long download by : skknchat@gmail.com 13 đong, vất vả.
Chị viết về họ như để trả nghĩa quê hương đã sinh ra mình, trả nghĩa cái tình của bà con chòm xóm xung quanh, trả ơn cha mẹ, người thân đã nuôi dưỡng, cho chị nguồn sống và cả nguồn sáng tác văn chương chưa khi nào vơi cạn: “Chưa có bao giờ má dạy tôi viết văn, nhưng những gì tôi viết ra đều mang hơi thở cuộc sống mà má trao tặng”[72, tr. Những con người đó chưa bao giờ xa lạ với chị và những trang viết của chị về họ cũng không xa lạ gì với chính họ: “Tôi tự tin vào sự hiểu biết về nông thôn quê hương tôi”[88]. Đối với chị, quê hương quả thưc đã là nguồn mạch tình yêu, là nơi tiếp sức, điểm tựa cho đời văn của chị. Những năm tháng sống cùng với ông ngoại, sớm lao vào công cuộc mưu sinh (làm văn thư cho tạp chí Bán đảo Cà Mau) có lẽ là một trong những duyên cớ khiến Nguyễn Ngọc Tư bước chânvào lĩnh vực viết văn.
“Đổi thay” là truyện ngắn đầu tay của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, được đăng trên tạp chí Văn nghệ Cà Mau. Nhưng chị chỉ thật sự được độc giả cả nước biết đến với tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” (2000). Cũng từ đó nhiều tập truyện của chị liên tục được độc giả trong và ngoài nước ủng hộ và đón nhận như: Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Giao thừa. Đến tập truyện “Cánh đồng bất tận” (2005) thì có thể nói NguyễnNgọc Tư đã thật sự khẳng định được tên tuổi và tài năng của mình trên văn đàn của Việt Nam.
Hiện chị sống và làm việc tại T. Nguyễn Ngọc Tư cũng là hội viên trẻ tuổi nhất của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện nay. Chị từng đạt giải Nhất cuộc thi "Văn học tuổi 20”, lần thứ 2, năm 2000, do Nhà xuất bản Trẻ, Hội nhà văn T.P Hồ Chí Minh, báo Tuổi trẻ phối hợp tổ chức với tập truyện "Ngọn đèn không tắt" và Giải thưởng Văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm 2001 cũng với tập truyện này. Cuốn sách này đã được chọn in lại trong "Tủ sách Vàng" của NXB Kim Đồng năm 2003.
Nguyễn Ngọc Tư cũng đạt Giải Ba cuộc thi sáng tác truyện ngắn 2003 - 2004 của báo Văn nghệ với download by : skknchat@gmail.com 14 truyện ngắn "Đau gì như thể. Những năm gần đây, chị tiếp tục gây ngạc nhiên và đem lại nhiều thiện cảm cho bạn đọc bằng giọng văn bề ngoài như dửng dưng nhưng ẩn sâu bên trong lại rất tình cảm và cuốn hút của mình. Chị cũng là tác giả trẻ nhất có tên trong tuyển tập truyện ngắn Việt Nam được dịch và in ở Mỹ, năm 2005. Hiện tại nhiều truyện ngắn của chị được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Anh để giới thiệu với độc giả ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư cũng rất xuất sắc trong mảng tạp văn khi ngay sau tập truyện “Cánh đồng bất tận” đã cho ra đời một cuốn tạp văn “nặng ký” đầu tiên có tên là “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” (2005), tập hợp những bài viết của chị đã đăng trên tạp chí “Thời báo kinh tế Sài Gòn”. Năm 2007, chị lại cho ra đời một tập tạp văn mới “Ngày mai của những ngày mai”, được độc giả và giới phê bình đánh giá tốt. Có thể nói, chị là một trong những nhà văn trẻ viết khỏe và viết đều khi chỉ trong vòng ba năm đã cho ra đời bốn tập truyện ngắn (không kể tạp văn). Điều đó chứng tỏ chị là một nhà văn miệt mài lao động, miệt mài sống và tích lũy vốn sống để nuôi dưỡng cảm hứng và năng lực sáng tác, chứ không chỉ nhờ vào năng khiếu thiên bẩm.
Qua chặng đường cầm bút, tung hoành trên cả hai thể loại truyện ngắn và tạp văn, Nguyễn Ngọc Tư đã phần nào khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ những người sáng tác trẻ của cả nước, đã xác lập được một phong cách sáng tác riêng biệt mang dấu ấn “Nguyễn Ngọc Tư” - một văn phong rặt chất Nam Bộ hiền hòa, hào sảng vang bóng một thời nhưng vẫn hồn hậu nồng nàn đến tận ngày nay. Nguyễn Ngọc Tư với thể loại tản văn Nếu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là những câu chuyện về những con người, số phận, cảnh đời luôn khiến ta khắc khoải, đau đáu vì thương và vì bất lực thì tản văn của chị lại là những mảnh ghép nhỏ hơn của cảm xúc, đôi khi chỉ thoáng qua song nó để lại trong ta một sự xúc động rất sâu và dai dẳng. Chính Nguyễn Ngọc Tư đã thừa nhận “Mỗi tháng em viết vài tạp văn. download by : skknchat@gmail.com 15 Em thích viết tạp văn, vừa nhẹ nhàng, vừa tiện đăng báo để kiếm tiền”, nhưng có thể đó chỉ là lời nói đùa.
Dường như Nguyễn Ngọc Tư hợp với tản văn hơn bởi nó nhẹ nhàng, tự do và bình dân. Với Nguyễn Ngọc Tư viết hết thảy mọi chuyện xảy ra quanh chị và trong đời chị, từ việc con cái, ruộng vườn đến kinh tế, đến nhà nước và cả ở hải ngoại. Có thể nói là chuyện “thiên tào” trên trời dưới đất đều có trong tản văn của chị. Song, nếu đã đọc một lần là chắc chắn không quên.
Bởi chị luôn biết cách đưa vào những chi tiết làm động lòng người đọc, chị viết tản văn thì nhẹ nhàng nhưng người đọc lại không nhẹ nhàng chút nào, ngược lại bao giờ cũng thấy sống mũi cay cay. Trong bài giới thiệu cho tập Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Thanh Vân đã có lời nhận xét rất ý vị về cách chị viết tản văn: “Thủng thẳng, nhỏ nhẹ như người con gái quê đang vừa hái rau muống vừa kể chuyện, những câu chuyện lúc thì da diết lúc lại hóm hỉnh, tưng tửng, vui vui, tạp văn Nguyễn Ngọc Tư có sự kết hợp rõ nét giữa văn và báo”. Sự so sánh đó rất chính xác, ta có thể hình dung dáng vẻ của Nguyễn Ngọc Tư trong tản văn như vậy, không cố làm dáng, không tạo hình cầu kỳ nhưng vẫn cuốn hút, vẫn để lại dấu ấn rất sâu trong bất kỳ ai một lần ngắm qua. Đề tài trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư khá đa dạng.
Đọc tản văn Nguyễn Ngọc Tư, ấn tượng bao quát trong cảm nhận của người đọc là một thế giới cuộc sống ngồn ngộn, đầy ắp hình ảnh sinh động; ngôn từ đậm chất Nam Bộ, đặc biệt là giọng trữ tình thế sự sâu mà không đanh. Đó là sức hút trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư thể hiện xuyên suốt trong nhiều tác phẩm. Khái niệm tản văn Cho đến nay thật sự vẫn chưa có một khái niệm chính xác và thống nhất dành cho tản văn. Việc phân biệt tản văn - tạp văn - tạp bút vẫn còn những vấn đề chưa được khu biệt rõ ràng.
Hầu hết, trong cách sử dụng từ ngữ chuyên ngành trên báo chí đều đồng nhất ba thể loại trên. Người ta thường nêu tên cả ba cùng lúc để chỉ ra nhiều cách gọi khác nhau của cùng một thể loại, hoặc chỉ dùng một tên phổ biến nhất là tản văn để gọi tên tất cả. download by : skknchat@gmail.com 16 Theo Từ điển văn học (bộ mới) của nhà xuất bản Thế giới thì không có khái niệm của tản văn, chỉ có khái niệm của tạp văn “Tạp văn là một thể loại thuộc tản văn trong văn học Trung Quốc, thiên về nghị luận nhưng cũng giàu ý nghĩa văn học. Từ tạp văn vốn xuất hiện trong sách Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, song trong công trình đó từ này còn dùng để chỉ chung các thể loại văn chương.
Tạp văn với tư cách là một thể văn chỉ chính thức ra đời vào khoảng Cách mạng Ngũ Tứ (1917 - 1924), là một bài luận văn ngắn, giàu tính luận chiến, thường xoay quanh một số vấn đề về xã hội, lịch sử, văn hóa, chính trị… Đặc điểm chung của tạp văn là ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng; phản ánh một cách nhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của xã hội với những ý kiến đánh giá rõ ràng, sắc sảo” [trích Từ điển văn học (bộ mới),III, tr 1601]. Trong khi đó, Từ điển Thuật ngữ Văn học đưa ra khái niệm: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật. Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân.