LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Biển Đông được đánh giá là tuyến đường vận tải biển quốc tế nhộn nhịp đứng thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu đủ các loại qua lại Biển Đông, trong số đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải (Deadweight) trên 5.000 tấn, có hơn 10% là tàu có trọng tải (Deadweight) từ 30.000 tấn trở lên. Có nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào con đường biển này ví dụ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc.
Trong đó Trung Quốc chiếm khoảng 64% thương mại hàng hải của mình được vận chuyển trên Biển Đông, còn của Nhật Bản là 42%. Biển Đông là một tuyến đường quan trọng nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Nhất là các hành động gây gấn gần đây của Trung Quốc như: ngang nhiên đem dàn khoan dầu khí vào thăm dò trên vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam, vạch ra đường lưỡi bò một cách vô lý, san lấp và xây dựng các đảo nhân tạo, xây dựng các trạm căn cứ quân sự trên Biển Đông, xâm chiếm các đảo trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đồng thời đặt các trạm căn cứ quân sự trên đó, hây hấn với ngư dân đánh bắt cá của Việt Nam khi đánh bắt gần đó. Chính vì vậy nghiên cứu về tầm quan trọng của Biển Đông là một vấn đề cấp thiết sẽ giúp chúng ta hiểu được Biển Đông có ý nghĩa như thế nào đối với Việt Nam.
Để rồi từ đó nhắc nhở chúng ta là những người con Việt Nam hãy luôn bám biển, giữ biển bằng cách này hay cách khác, tuyên truyền với bạn bè thế giới về Chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông đặc biệt là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1 Tên đề tài luận văn: “Phân tích tầm quan trọng của Biển Đông”. Luận văn được tập chung nghiên cứu những nội dung sau: Vị trí của Biển Đông. Vị thế của Biển Đông.
Thương mại trên Biển Đông. An ninh trên Biển Đông. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với an ninh hàng hải và thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với các cường quốc trên thế giới.
Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam Quan điểm của Việt Nam về Biển Đông. Phương pháp nghiên cứu khoa học: Khi nghiên cứu làm luận văn nhóm chúng em đã tham khảo, sử dụng các số liệu khảo sát từ các chuyên gia, từ các đề tài luận văn nghiên cứu về Biển Đông để đưa vào Luận văn của chúng em. Ngoài ra nhóm chúng em cũng sưu tập, tìm tòi các nguồn tài liệu về Biển Đông rồi từ đó chắt lọc, biến thành của mình rồi đưa vào đồ án. Bên cạnh đó còn có sự chỉ dẫn của Giáo viên phụ trách đã cùng chúng em xây dựng nên nội dung nghiên cứu về Biển Đông.1 Vị trí của Biển Đông: Hình 1.1 Vị trí Biển Đông Biển Đông hay còn có tên quốc tế là South China Sea, là một biển rìa lục địa – nửa kín trải rộng từ eo biển Đài Loan đến Singapore, ở phía Tây Thái Bình Dương, chiếm một diện tích rộng lớn khoảng 3,5 triệu km2.
Kéo dài từ vĩ tuyến 3 Bắc đến vĩ tuyến 26 Bắc và từ kinh tuyến 100 Đông đến kinh tuyến 121 Đông. Có cả thảy là 9 nước và một vùng lãnh thổ tiếp giáp biển Đông, gồm Trung Quốc, Việt Nam và Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Campuchia và Đài Loan. Biển Đông là biển lớn thứ tư thế giới, sau biển San Hô, biển Ả Rập và biển Philippines, nắm giữ vị trí quan trọng về địa - chiến lược, địa - kinh tế, địa - chính trị … của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Do vậy mà Biển Đông và các quần đảo của nó đã trở thành đối tượng xung đột và tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay.
3 Biển Đông là một tuyến đường quan trọng nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Có năm thuộc trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Việt Nam là một quốc gia ven biển với đường bờ biển dài khoảng 3.260km, trải dài từ Móng Cái – Quảng Ninh đến tỉnh Kiên Giang, tính trung bình ra cứ 100km đất liền có khoảng 1km đường bờ biển. Việt Nam giáp với Biển Đông từ cả 3 phía: Tây Nam, Nam và Đông.
Vùng Biển Đông ước tính có khoảng vài nghìn đảo nhỏ, trung bình và lớn, ở đó có trên 250 cấu trúc địa lý mà mỗi cấu trúc có diện tích khoảng 1km2 gồm các rạn san hô, đảo san hô, rạn san hô vòng, bãi ngầm và bãi cạn, đa phần là các đảo hoang không có người sinh sống, một số lượng lớn các đảo bị ngập trong nước biển khi có triều cường lên và một số chìm thỏm dưới nước. Biển Đông gồm có ba nhóm quần đảo lớn là: quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo Đông Sa ở phía Bắc.570 hòn đảo và hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở giữa biển Đông đều thuộc chủ quyền của Việt Nam hợp thành phòng tuyến bảo vệ đất nước từ hướng biển.1 Vị thế biển Đông: Vị trí,địa thế của biển đông hiện nay tại bình đồ của Châu Á và trên bình đồ thế giới được công nhận và xếp loại theo ba tiêu chuẩn : vị trí, vị trí tự nhiên, vị trí, vị thế kinh tế, và vị thế địa- chính trị. Về vị trí địa – kinh tế, Biển Đông sở hữu một nguồn tài nguyên lớn của các đất nước xung quanh, là tuyến đường huyết mạch hàng hải giúp lưu thông cho nhiều nước trên thế giới, đông thời cũng biểu hiện rõ sự cách biệt rất lớn về tiềm lực kinh tế của các nước bao quanh, dẫn đến nảy sinh nhiều cách cư xử khác nhau đối với chính biển đông. Về địa chính trị, do vị trí ngã tư và trung tâm của mình , khu vực biển Đông là nơi giao thoa , bị ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá , là mảnh đất của chế độ thực dân cũ và mới , là nới đối đầu trong chiến tranh lạnh , và là nơi có một vị trí địa quân sự mang tầm vóc quốc tế.
Ngày nay, để khai thác và bảo vệ tài nguyên và môi trường biển đông có hiệu quả, vấn đề cơ bản đối với các dân tộc trong khu vực là hợp tác thay cho đối đầu. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể để sử dụng hợp lí tài nguyên vị trí, vị thế vùng biển chủ quyền của mình.1 Giới thiệu chung: Vị thế của biển đông, đặc biệt đối với khu vực biển biển Việt Nam chiếm gần 1/3 về diện tích. Nghiên cứu và đánh giá các giá trị mà vị thế đó mang lại chính là nghiên cứu về tài nguyên vị thế trên Biển đông; Biển Đông có vị trí là phía đông nam lục địa Châu Á, thuộc hệ thống biển rìa Tây Thái Bình Dương ( Nhật Bản, Hoa Đông,) là một biển nửa kín ; được bao quanh bởi về phía Đông và Nam bởi các quần đảo Phillipin, Inđônexia ; và qua các eo biển nối với Thái Bình Dương về phía Bắc và phía Đông, và Ấn Độ Dương ở bên nam. Biển đông có diện tích 3537000km2 , độ sâu trung bình 1140, thuộc khí hậu nhiệt đới và xích đạo , phía bắc được giới hạn bởi vĩ tuyến 21 độ 10 phút bắc, còn ranh giới phía cực nam vĩ tuyến 2 độ 3 phút nam, ; và mở rộng đến phía Tây của kinh tuyến 100 độ Đông và đến phía đông của kinh tuyến 120 độ đông; Bao quanh biển Đông có mười nước là Trung quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaisia, Indonexia, Singapore, Brunay, Phillipin, và Đài Loan.
Để thấy được vị thế của Biển Đông trong hệ thống các biển nửa kín của thế giới có thể đưa ra một số số liệu so sánh sau đây: Một số thông số, thông tin của biển đông khi so sánh với các biển khác 5 Bering okhot Nhật bản Địa trung Caribe Biển hải đông Cận cực Ôn đới Ôn đới Cận nhiệt Nhiệt đới Nhiệt Khí đới đới, xích hậu đạo 2,32 1,61 1,01 2,85(2,45) 2,65 3,45 Diện tích (triệu km2) 1639 820 1751 1436 2428 1141 Độ sâu trung bình Hải Hải Hải Hải Hải Hải Tài sản,dầu sản,dầu sản,dầu sản,dầu sản,dầu sản,dầu nguyên khí khí khí khí khí khí Số nước bao quanh 3 3 5 16 20 9 Quy mô Quốc gia, Quốc gia, Liên Liên quốc Liên Liên giao liên quốc liên quốc quốc gia gia, liên quốc gia, quốc gia, thông gia gia lục địa liên lục liên lục địa địa 6 Mức độ Vừa phải Căng Rất căng tranh thẳng thẳng chấp Bảng 2.1: Bảng thông số, thông tin của một số biển Nếu không kể các biển hở, như biển phillipin 5,7 triệu km2 và biển ả rập 4,8 triệu km2 thì biển đông : vùng biển ta thấy rằng có S lớn nhất, qua bảng 1 có thể thấy vai trò đặc biệt của biển đông so với các biển quan trọng khác trên phạm vi trái đất như biển địa trung hải.2 Vị trí, Vị thế của biển đông trên bản đồ của châu á, thế giới: 1. Vị thế tự nhiên: + Biển Đông được sinh thành khá muộn, kể từ khi đáy tách giãn tạo biển rìa chỉ khoảng 32 triệu năm trước, tuy nhiên nó khác biêth với hầu hết các biển khác ở chỗ nằm ở ranh giới của ba mảng thạch quyền của vỏ trái đất, thay vì 2 như thông thường, đó là mảng Thái bình dương , Âu á và âu úc, nơi giao thoa của nhiều đặc điểm địa chất, kiến tạo, và điều này làm cho biển đông và những đất đai xung quanh của nó có những đặc điểm khác biệt. +Về mặt sơn văn , lãnh thổ đó là nơi gặp gỡ của hai đại tạo núi lớn là Tây Thái Bình Dương với phương các dãy núi ĐB - TN , và Alpi với phương TB - ĐN .