Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Ket quả và thảo luận nghiên cứu Chương 5: Ket luận và Hàm ý quản trị 4 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về bảo hiểm Định nghĩa 1: Theo Dennis Kessler thì bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Định nghĩa 2: thì người mua bảo hiểm cam kết thực hiện mong muốn của mình hoặc trong trường hợp xảy ra rủi ro, chuyển quyền sở hữu sản phẩm cho bên thứ ba để đổi lấy một khoản tiền được gọi là phí bảo hiểm, được bồi thường những tổn thất đã được bảo hiểm chi trả. Mọi rủi ro đều do công ty bảo hiểm đảm nhận, họ sử dụng các kỹ thuật tính toán để xác định thiệt hại. Định nghĩa 3: Quá trình giảm thiểu rủi ro thông qua việc kết hợp đủ các đơn vị chủ thể để chuyển những tổn thất cá nhân thành những tổn thất chung có thể dự đoán được được gọi là bảo hiểm.
Một quan điểm nghiên cứu nhất định thường được ưa chuộng trong các định nghĩa nói trên (Hoặc thông qua định hướng xã hội, như định nghĩa trong định nghĩa 1, hoặc thông qua định hướng kinh tế, pháp lý hoặc công nghệ, như định nghĩa trong định nghĩa 3). Bảo hiểm là một hình thức hoạt động mà một cá nhân có thể đóng góp vào để nhận được trợ cấp khi xảy ra rủi ro, không chỉ cho bản thân mà còn có thể áp dụng cho người thứ ba. Trong trường hợp xảy ra rủi ro, khoản trợ cấp này sẽ được tổ chức bảo hiểm chi trả. Tổ chức bảo hiểm này đảm nhận trách nhiệm đối với các rủi ro được quy định và sẽ đền bù các thiệt hại theo các phương pháp định lượng dựa trên dữ liệu thống kê (https://vi.2 Khái niệm về bảo hìểmy te Theo khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung 2014: Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm bắt buộc do Nhà nước tổ chức và quản lý nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng theo quy định của Luật này, chứ không nhằm 5 mục đích thu lợi tài chính.
Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Theo đó, người mua bảo hiểm y tế sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị, phục hồi sức khỏe,. nếu không may xảy ra tai nạn, ốm đau.3 Khái niệm hộ gia đình HGĐ là một thuật ngữ pháp lý để chỉ gia đình trong xã hội. Theo đó, hộ gia đình là gì được định nghĩa như sau: HGĐ là tập hợp các cá nhân có mối quan hệ với nhau chung sống gắn bó.
Những mối quan hệ nền tảng này là: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng. Từ đó, các thành viên trong hộ gia đình có các quyền và nghĩa vụ với nhau và hộ gia đình cũng được coi là một chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự (Hoàng Phê, 1997). Hộ gia đình có thể gồm một hoặc nhiều thế hệ. Theo Luật hộ tịch, thành viên trong hộ gia đình là gì có thể thực hiện tách hộ thông qua các quy trình hành chính về cư trú.
Do đó, hộ gia đình không phải là một chủ thể có tính ổn định, việc xác định các thành viên trong hộ gia đình được dựa trên các căn cứ về tài liệu hộ tịch như: sổ hộ khẩu.4 Khái niệm bảo hiểmy tế hộ gia đình Bảo hiểm y tế HGĐ là chế độ bảo hiểm y tế hướng đến đối tượng mua chính là HGĐ. Trong đó: HGĐ là một tập hợp (nhóm người) cùng chung sống trên co sở những mối quan hệ đặc biệt tạo nên sự ràng buộc về mặt vật chất cũng như tinh thần giữa các thành viên, hiểu đon giản là toàn bộ thành viên trong một gia đình có tên ghi trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú. Trong luận văn này bảo hiểm y tế với mục đích cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe không vì mục đích lợi nhuận, bảo hiểm y tế hộ gia đình được định nghĩa là loại hình BHYT bắt buộc dành cho tất cả các cá nhân có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú do Nhà nước tổ chức thực hiện.5 Khái niệm ỷ định mua Theo (Vũ Huy Thông, 2010), mua sắm là một quá trình trong đó khách hàng phải đưa ra nhiều quyết định, thực hiện nhiều nhiệm vụ và chịu tác động của nhiều hoàn cảnh. Năm bước của quy trình mua hàng bao gồm xác định nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn thay thế, quyết định mua và đánh giá sau mua (Philip Korler, 2001).1 Quá trình ra quyết định mua Nguồn: Philip Korler, 2001 Theo (Blackwell và cộng sự 2001), quá trình mua hàng của người tiêu dùng bắt đầu từ nhận thức về nhu cầu; một cá nhân nhận ra những yêu cầu của mình khi họ nhận thấy sự khác biệt giữa trạng thái hiện tại và trạng thái mong muốn.
Nhu cầu được nhận biết và ghi nhận khi sự khác biệt này đạt đến một mức độ cụ thể (Vũ Huy Thông, 2010). Tìm kiếm thông tin: người tiêu dùng bắt đầu tìm kiếm thông tin về các sản phẩm tương tự có thể đáp ứng yêu cầu của họ.Môi trường xung quanh bên trong hoặc bên ngoài của người tiêu dùng có thể đóng một vai trò trong quá trình tìm kiếm thông tin (Blackwell và cộng sự, 2001). Sau giai đoạn thu thập thông tin về hàng hóa đáp ứng yêu cầu của mình, người mua sẽ phân tích dữ liệu và đánh giá các sản phẩm thay thế khả thi để xác định câu trả lời phù hợp. Hầu hết đều đáp ứng được nhu cầu của họ (Trần Minh Đạo, 2006; Blackwell và cộng sự, 2001).
Sau giai đoạn đánh giá, khách hàng được cung cấp danh sách các khả năng mua hàng (Mua sản phẩm gì, mua ở đâu, v.) được sắp xếp theo ý định mua của họ (Blackwell và cộng sự, 2001). Những sản phẩm đứng đầu danh sách mua hàng 7 mong muốn của người tiêu dùng có nhiều khả năng được lựa chọn nhất (Blackwell và cộng sự, 2001). Bởi vì mọi người nói chung và người tiêu dùng nói riêng thường xuyên thực hiện các hành động liên quan đến dự định mua hàng của họ (Blackwell và cộng sự, 2001). Sau khi mua sản phẩm, người tiêu dùng sẽ sử dụng nó (Blackwell và cộng sự, 2001).
Quyết định mua hàng tiếp theo của khách hàng bị ảnh hưởng bởi mức độ hài lòng hoặc không hài lòng của họ với sản phẩm sau khi dùng thử và mua nó (Blackwell và cộng sự, 2001). Sự thể hiện sự sẵn sàng của mỗi người tiêu dùng để thực hiện một hoạt động được khuyến nghị được Ajzen và Fishbein định nghĩa là ý định hành vi .Nó được coi là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi (Ajzen và Fishbein, 1775). Theo Ajzen (1991) [6, tr. Một nguyên tắc tổng quát là ý định thực hiện hành vi càng mạnh thì khả năng một cá nhân thực hiện hành vi đó càng cao (Ajzen, 1991, Armitage và Conner, 2001, Ajzen và Fishbein, 2005).
Theo Ajzen và Fishbein Martin: Ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước (Ajzen và Fishbein Martin, 2005). Theo Ajzen và Fishbein (1980), ý định mua hàng là sự phản ánh nhận thức của người tiêu dùng về chuỗi tiêu dùng. Theo Ajzen (1985), nó được coi là động lực của một người để thực hiện kế hoạch hoặc quyết định nỗ lực thực hiện một hoạt động cụ thể của mình. Là ý chí và được kiểm soát bởi ý định, hầu hết các hành vi của con người đều có thể được dự đoán từ ý định (Han và cộng sự, 2010).
Đe tài sử dụng khái niệm ý định của Ajzen và các đồng nghiệp (2002): Ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước. Tóm lại, ý định mua là kế hoạch hay khả năng một người nào đó sẽ thực hiện việc mua cụ thể trong một bối cảnh nhất định, là sự sẵn sàng của khách hàng trong việc mua sản phẩm. Ý định mua có thể được coi là một chỉ số quan trọng để dự đoán hành vi tiêu dùng. 8 22 Lý thuyết nền Kên quan đến ý định hành vi 2.
ĩ Lý thuyết hành động họp ìý TRA (Theory of Reasoned Action) Lý thuyết hành động họp lý TRA (Theory of Reasoned Action) đưực Ajzen và Fishbein xậ/ đựng từ nám 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gj. Lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975) cho thay xu huống hành vi tiêu dùng là yeu to dự đoán tot nhất cho hành vi tiêu dùng cũa khách hàng Xu huống hành vi tiêu dùng có the đo lường bởi hai yeu to là thái độ cũa người tiêu dùng và chuẩn chủ quan Trong mô hành TRA, thà độ cũa nguòi tiêu dùng được đo lưòng bằng nhận thúc về các thuộc tính của sân phàm và niềm tin cũa người mua đoi với thuộc tính sân phẩm. 1'ĩgưòi tiêu dùng sẽ chú ý đến nhúng thuộc tính của sân phẩm mang lại các íchlọi canthet và có múc độ quan trọng khác nhau cho tùng người tiêu dừng Neu biết trọng so của các thuộc tính đó th có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dừng Hình 2.2 Mô hnh lý thuyết hành động hợp lý-TRA NgẤồn: Ajzen và Rishbeirị ỉ975 Y eu to chuẩn chữ quan có the đưọc đo lường thông qua niềm tín của nhũng nguôi ãnh hưởng có liên quan đến ngưòi tiêu dùng (như gia dinh, bạn bè, đồng nghiệp,.); 9 những người ảnh hưởng này thích hay không thích việc người tiêu dùng mua sản phẩm nào đó. Ngoài ra người tiêu dùng còn bị ảnh hưởng bởi sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,.
Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng.2 Lý thuyết hành vì có ke hoạch (TPB) của Ajzen (1991) Ajzen (1991) đề xuất lý thuyết hành vi có kế hoạch, mô hình TPB giải thích các yếu tố mô tả ý định của mọi người đằng sau các yếu tố được mô tả bằng hiệu quả của bản thân. Nó bao gồm các ý định như một yếu tố dự đoán mạnh mẽ về hành vi.