Chương 1. TỔNG QUAN VỀ TÂM LÝ QUẢN TRỊ KINH DOANH Mục tiêu: Chương này nhằm giúp sinh viên nắm được: - Khái niệm, vai trò và quá trình phát triển của tâm lý quản trị kinh doanh. - Nội dung cơ bản và phạm vi ứng dụng của các lý thuyết về tâm lý quản trị kinh doanh. - Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu tâm lý quản trị kinh doanh.
Một số vấn đề chung về tâm lý và tâm lý quản trị kinh doanh 1. Khái niệm và vai trò của tâm lý 1. Khái niệm tâm lý Có thể hiểu một cách khái quát nhất, tâm lý là những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền, chi phối và điều khiển mọi hoạt động của con người. Theo cách hiểu này thì khái niệm tâm lý rất rộng: là nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, ý chí, tính cách, ý thức và tự ý thức; là nhu cầu, năng lực, động cơ, hứng thú, khả năng sáng tạo, tâm thế xã hội và những định hướng giá trị… của con người.
Tâm lý bao gồm 4 lĩnh vực cơ bản là: nhận thức, tình cảm - ý chí, giao tiếp và nhân cách. Hoạt động tâm lý có cơ sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được phát sinh thông qua hoạt động sống của từng người và gắn bó mật thiết với các quan hệ xã hội. Tâm lý của một người chỉ có thể phát triển bình thường, nếu thoả mãn hai điều kiện cơ bản: thứ nhất, người đó phải có bộ não bình thường; thứ hai, người đó phải có các mối quan hệ trong xã hội và thế giới tự nhiên. Thoát ly khỏi các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội sẽ làm cho tâm lý mất đi bản tính người, vì bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
Tâm lý luôn gắn liền với mọi hoạt động nên diễn biến tâm lý bên trong mỗi cá nhân thường được biểu hiện ra bên ngoài thông qua lời nói, nét mặt, cử chỉ, hành động. Đây chính là cơ sở để người ta nhận biết tâm lý của đối tượng nào đó thông qua quan sát. Vai trò của tâm lý Trải qua quá trình hoạt động, để tồn tại và phát triển, con người phải không ngừng nhận thức các hiện tượng, sự vật, các mối quan hệ, các quy luật trong tự nhiên 8 và xã hội, đồng thời bày tỏ thái độ của mình đối với chúng. Như vậy tâm lý đã thực hiện vai trò nhận thức, giúp con người phản ánh hiện thực tự nhiên, xã hội và bản thân.
Sự phản ánh của tâm lý bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan và khách quan, dẫn đến có sự khác nhau về sự hiểu biết và cảm xúc, tình cảm của mỗi cá nhân. Điều đó cho thấy tâm lý là hiện tượng có thật và nhờ nó mà con người có thể nhận thức được và có thái độ với thế giới xung quanh mình. Tâm lý còn có vai trò định hướng và thúc đẩy hoạt động của con người. Nhờ có tâm lý, con người luôn xuất hiện nhu cầu, động cơ và mục đích hoạt động, qua đó thúc đẩy mọi hành động để thỏa mãn nhu cầu.
Tâm lý điều khiển và điều chỉnh hoạt động của con người để đạt được mục đích, nhờ đó con người tồn tại và phát triển được trong môi trường sống của mình. Do tâm lý có vai trò quan trọng đối với con người, nên để nâng cao hiệu quả quản lý con người trong quản trị kinh doanh, đòi hỏi nhà quản trị phải nắm vững và vận dụng kiến thức tâm lý vào quản lý các cá nhân và tập thể lao động trong doanh nghiệp. Khái niệm và quá trình phát triển của tâm lý quản trị kinh doanh 1. Quá trình phát triển của tâm lý học Tâm lý học là thuật ngữ có nguồn gốc từ hai từ Hy lạp cổ được phiên âm ra tiếng La tinh là “psychologie”.
Từ “psyche” có nghĩa là “linh hồn” hay “tâm hồn”, còn từ “chologie” có nghĩa là “học thuyết” hay “khoa học”. Trên cơ sở này có thể hiểu tâm lý học là “khoa học về tâm hồn”, với đối tượng nghiên cứu là tâm lý con người. Cụ thể, tâm lý học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của các hiện tượng và quy luật tâm lý. Trong giai đoạn đầu của lịch sử phát triển, tâm lý học còn là một bộ phận của triết học.
Sau khi con người nhận thức được sự tồn tại của “tâm hồn” và quan tâm nghiên cứu nó thì tâm lý học dần dần được tách ra trở thành một môn khoa học độc lập. Sau đây trình bày khái quát về quá trình phát triển của tâm lý học. * Tâm lý học thời kỳ cổ đại Con người đã quan tâm đến các hiện tượng tâm lý ngay từ khi họ xuất hiện trên trái đất, cách đây khoảng 10 vạn năm. Trong các di chỉ của người nguyên thuỷ để lại cho thấy từ thời kỳ cổ đại đã có những quan niệm về cuộc sống của “hồn”, “phách” sau cái chết của con người.
Trong các văn tự đầu tiên như các kinh của Ấn Độ cổ, người xưa đã có những nhận xét về tính chất của “hồn” và những ý tưởng sơ khai của 9 thời kỳ tiền khoa học tâm lý. Trong thời kỳ cổ đại đã xuất hiện nhiều quan điểm và học thuyết khác nhau về tâm lý, do có các quan niệm khác nhau về triết học và tôn giáo. Học thuyết duy tâm cổ đại cho rằng tâm lý là hiện tượng hoàn toàn phi vật chất, là “phần hồn” đối lập với “phần xác”. Phần hồn do Thượng đế sinh ra và được đặt vào con người cụ thể khi mới chào đời.
Khi con người chết đi thì chỉ có phần xác bị tiêu hủy, còn phần hồn sẽ bất tử, nó lìa khỏi xác và tiếp tục tồn tại đâu đó mà con người không thể biết được. Chẳng hạn, theo học thuyết của nhà triết học duy tâm cổ đại Hy Lạp Platông (428 - 347 tr.CN), thì tâm hồn có trước, thực tại có sau. Tâm hồn do Thượng đế sinh ra. Tâm hồn trí tuệ nằm trong đầu và có ở giai cấp chủ nô; tâm hồn dũng cảm nằm trong ngực và có ở giai cấp quý tộc; tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và có ở tầng lớp nô lệ.
Học thuyết duy vật cổ đại có quan niệm ngược lại, tâm lý là vật chất, vận động và biến đổi theo quy luật của thế giới vật chất. Tâm lý không tách khỏi cơ thể và không phải là bất tử. Nhiều học thuyết mà điển hình là “thuyết nguyên tử luận” của Đêmôcrát (460 - 370 tr.CN) cho rằng tâm lý được tạo ra từ các nguyên tử. Các học thuyết khác lại quan niệm tâm lý được tạo thành từ đất, nước, lửa, khí.
Theo “thuyết khí chất” của Hypôcrát (460 - 377 tr.CN), tâm lý được tạo thành bởi 4 chất trong cơ thể, gồm: “Máu” ở trong tim, màu đỏ, có thuộc tính nóng; “Chất tiết ra” ở trong não, màu trắng, có thuộc tính lạnh; “Chất tiết ra” ở trong gan, màu vàng, có thuộc tính khô và “Chất tiết ra” ở trong dạ dày, màu đen, có thuộc tính ướt. Trên cơ sở đó, Hypôcrát giải thích sự khác nhau về tâm lý giữa người này với người khác là do có sự khác nhau về tỷ lệ pha trộn của các chất nói trên và phân loại con người theo 4 nhóm khí chất, có biểu hiện tâm lý khác nhau như: nhóm khí chất có máu chiếm tỷ lệ trội hơn, biểu hiện sự nóng nảy, hăng hái, sôi nổi; nhóm khí chất có chất tiết ra trong não trội hơn, biểu hiện sự linh hoạt, sắc xảo, lạnh lung; nhóm khí chất có chất tiết ra trong gan trội hơn, biểu hiện sự điềm tĩnh, khô khan, cứng nhắc; nhóm khí chất có chất tiết ra trong dạ dày trội hơn, biểu hiện sự ưu tư, ướt át, đa cảm. Ngày nay, khoa học tâm lý vẫn nhất trí với cách phân loại con người theo khí chất của Hypôcrát, nhưng giải thích bản chất tâm lý của chúng một cách khoa học hơn, dựa trên học thuyết “Sinh lý và hoạt động thần kinh cấp cao” của I. Paplôp (1849 - 1936), sẽ trình bày ở chương sau.
10 Trong thời kỳ này, nhà tâm lý học cổ đại Arixtốt (384 - 322 tr.CN) đã viết cuốn sách “Bàn về tâm hồn”, được coi là cuốn sách tâm lý học đầu tiên của loài người. Phân tích tác phẩm này có thể thấy những quan niệm cơ bản về tâm hồn như sau: - Tâm hồn bao gồm cả tư duy, trí nhớ, tình cảm, các quá trình và trạng thái tâm lý, các hành động tác động vào thế giới bên ngoài. - Muốn hiểu tâm hồn thì phải nghiên cứu các mối quan hệ ngoài tâm hồn, giữa tâm hồn và cơ thể. - Tâm hồn chỉ có ở các vật thể tự nhiên có sự sống, thể hiện qua định nghĩa: “Tâm hồn là cái tự đích của thân thể tự nhiên và có khả năng sống”.
- Có 3 loại tâm hồn: tâm hồn dinh dưỡng đảm bảo chức năng nuôi dưỡng, sinh nở; tâm hồn cảm giác đảm nhận chức năng cảm thụ, mong ước và vận động; và tâm hồn suy nghĩ đảm nhận chức năng lý giải, lập luận, tưởng tượng. Theo Arixtốt, các loài thực vật chỉ có tâm hồn dinh dưỡng, các loài động vật có tâm hồn dinh dưỡng và tâm hồn cảm giác, còn con người có cả 3 loại tâm hồn trên. Tóm lại, trong thời kỳ cổ đại các nhà tâm lý đều quan tâm đặc biệt đến “tâm hồn” con người với quan niệm đó là một lĩnh vực riêng cần phải được nghiên cứu độc lập. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của khoa học lúc đó, hệ thống quan điểm về tâm lý con người thời kỳ cổ đại còn mang nặng tính tự nhiên, tự phát, máy móc, phần lớn mang mầu sắc duy linh và mới dừng ở mức độ tiền khoa học.
Trong thời kỳ cổ đại, tâm lý học vẫn là một bộ phận của triết học, chưa đủ điều kiện để tách ra thành một môn khoa học độc lập. * Tâm lý học truyền thống Sau thời kỳ cổ đại, tâm lý học tiếp tục phát triển sang thời kỳ tâm lý học truyền thống. Những thành tựu quan trọng của khoa học tâm lý trong thời kỳ này có thể tóm tắt như sau: - Thuyết nhị nguyên: Người đại diện cho phái "nhị nguyên luận" là R.Đêcác (1596 - 1650), cho rằng vật chất và tâm hồn là hai thực thể song song tồn tại. Ông coi cơ thể con người có phản xạ như một chiếc máy.
Còn bản thể tinh thần, tâm lý con người thì không thể biết được.Đêcác cũng đặt cơ sở đầu tiên cho việc tìm ra cơ chế phản xạ trong hoạt động tâm lý.