Phần th ứ ba TÂM Lí NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ Tổ CHỨC Chương 9 NHỮNG ĐẶC ĐlếM TÂM LÍ cơ BẢN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Trong hoạt động quản lí, đối tượng m à người lãnh đạo tác động tới chính là con người - con người với các thuộc tính tâm lí phong phú và phức tạp. Quản lí vể bản chất là quản lí con người và tập thể những con người. Để hoạt động quản lí có hiệu quả, thì người lãnh đạo nhất thiết phải hiểu biết đối tượng mà m ình tác động vào - con người, tập thể người, tức là hiểu biết các thuộc tính tâm lí quan trọng cùa họ. Khi người lãnh đạo hiểu biết các th àn h viên trong tổ chức như m ột con người, m ột nhân cách, m ột cá tính thì người đó sẽ phát huy được năng lực và hạn chế được những nhược điểm của họ, sử dụng họ m ột cách hợp lí để thực hiện các mục đích chung của tổ chức.
Đã có m ột thời gian dài đất nước ta chìm trong chế độ phong kiến bảo thủ với nền sản xuất tiểu nông manh mún, lạc hậu và sự ngự trị của chủ nghĩa bình quân, yếu tố cá nhân hầu như không được quan tâm , cá nhân bị che khuất và nhoè đi trong cọng dóng. N ói cầch khác, con người VỚI tư cầch là thành viên của cộng đồng không được quan tâm và tạo điểu kiện để phát triển. Trong cơ chế cũ - cơ chế tập trung bao cấp, yếu tố con người chưa được chú ý đúng mức. Căn bệnh quan liêu, giáo điểu đã làm cho những người lãnh đạo xa rời quẩn chúng, không hiểu biết họ, 239 đặc biệt là m ỗi cá nhân với tư cách là chủ thể cùa m ột thế giới tâm lí đẩy phức tạp.
Phong cách lãnh đạo hành chính, mệnh lệnh đã biến những người bị lãnh đạo th àn h những người thừa hành m áy m óc và thiếu sáng tạo. Trong những năm gần đây, yếu tố con người đã và đang được chú ý. N hững tiềm năng của con người đã bắt đầu được các nhà lãnh đạo khai thác. Tìm hiểu các thuộc tín h tâm lí của con người và sử dụng chúng đã trở thành yêu cầu đầu tiên đối với người lãnh đạo trong cơ chế mới, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đẫt nước hiện nay.
Các yếu tố tâm lí của con người được các nhà lãnh đạo bắt đầu tính đến trong quá trìn h tổ chức hoạt động của tổ chức, trong việc để ra các chủ trư ơng và biện pháp quản lí. Thực tiễn của hoạt động quản lí cho thẩy, khi người lãnh đạo nắm vững các thuộc tín h tâm lí của những người lao động thì họ đã nắm được chìa khoá mở ra những tiềm năng m ới trong việc nâng cao năng suất và chất lượng lao động. Khi người lãnh đạo coi nhẹ những hiểu biết đó sẽ dẫn đến chỗ thiếu tin tưởng vào khả năng sáng tạo của mọi người, việc tổ chức sinh động lại thay bằng những biện pháp hành chính, m ệnh lệnh. Người lãnh đạo với chức năng là người th u phục, lôi cuốn và tập hợp các th àn h viên để thực hiện các m ục tiêu của tổ chức cần nắm được m ột số đặc điểm tâm lí cơ bản sau của những người thừa hành.
Khái niệm nhu cẩu Đối với người lãnh đạo, nhu cẩu của các cá nhân nổi lên như m ột trong những vẫn để cấn được quan tâm hàng đầu. Bởi vì, 240 nhu cầu có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của con người. Con người không thể tồn tại mà thiếu n hu cầu, trước hết là những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn, mặc, ở. Mác viết: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới làm ra lịch sử.
Nhưng m uốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo”. Sự thoả mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động cùa mỗi cá nhân và tập thể. N hu cầu quy định xu hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm và ý chí của con người. M ặt khác, nhu cầu quy định và tích cực hoá hoạt động của con người.
Kôvaliôp: “Nhu cấu là sự đòi hỏi của các cá nhân và cùa các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định d ể sống và phát triển”. Trong cuốn sách Đắc nhân tâm, tác giả Dale Carnegie viết: “M uốn dẫn dụ ai làm việc theo ý ta, chỉ có cách làm cho người ấy phát khởi cái ý m uốn làm việc đó”. Để phát khởi được cái ý m uốn hoạt động đó thì phải tìm hiểu và đáp ứng các nhu cẩu cùa người ẩy. Vấn đề nhu cầu của người lao động ở nước ta N hu cầu của con người mang tính lịch sử.
N hu cẩu gắn liến với sự phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu của con người cũng phản ánh trình độ phát triển cùa xã hội. N hu cáu của con người phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phong phú qua các giai đoạn lịch sử. Khi kinh tế, khoa học kĩ thuật càng phát triển thì nhu cầu của con người càng phong phú và tin h tế. Ở nước ta, suốt bao nhiêu thế ki dưới chế độ phong kiến, do nến kinh tế tiểu nông lạc hậu, kém phát triển nên nhu cẩu của người dân ở mức độ rẫt thấp, chỉ dừng lại ở n hữ ng n hu cẩu 241 tối thiểu.
Khát vọng của người nông dân Việt Nam quanh năm tần tảo, m ột nắng hai sương khi đó chỉ là ăn no, m ặc ấm, chỉ là ăn chắc, mặc bền. Tẩng lớp quan lại bấy giờ rất ít quan tâm đến nhu cầu của dân. Trong mấy chục năm cùa cơ chế tập trung bao cấp, do chỉ có nhu cầu tập thể được quan tâm , nên nhu cầu cá nhân cùa con người bị coi nhẹ. Các nhu cầu cá nhân của con người bị che khuất, lu mờ sau những nhu cầu tập thể, cộng đổng, bị hoà tan vào các nhu cầu này.
M ặt khác, do phong cách quản lí quan liêu, m ệnh lệnh, do cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ nên những người lãnh đạo ít quan tâm đến các nhu cẩu của cá nhân, ít quan tâm đến việc tạo ra động lực phát triển của tổ chức và các nhóm xã hội. Có lẽ vì vậy mà trong các cộng đống nhỏ, cũng như trong cộng đồng xã hội lớn đã không có được động lực phát triển, hay nói cách khác, cái động lực thúc đâ’y hoạt động của con người đã bị triệt tiêu, không được chú ý và kích thích. M ột thực tế m à ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy được, trong thời kì hợp tác hoá nông nghiệp, năng suất lúa của các hợp tác xã nông nghiệp rất thấp, đỉnh cao của nó là 5 tấn/ha. N hưng khi thực hiện cơ chế “Khoán 100” và “Khoán 10”, cuộc sống ở nông thôn đã khời sắc rõ rệt, từ chỗ thiếu lương thực, phải nhập gạo của nước ngoài đến chỗ chúng ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ ba trên thế giới, năng suất hơn 10 tấn/ha là m ột điểu rát bình th ư ờ n g rí các v ù n g n ỏ n g th ô n h iệ n n ay Với việc lựa chọn cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế hàng hoá, hội nhập và m ở cửa, chúng ta đã và đang chú ý đến các nhu cẩu cá nhân của con người, kích thích nó phát triển, biến nó thành động lực thực sự thúc đẩy hoạt động của con người.
Kỏvaliôp viết: “M ột nguốn gốc nội tại căn bản thúc đẩy hoạt động cùa quần chúng và của cá nhân là các nhu cầu”. Ả nghen cũng chỉ rõ: “Người ta thường quen giải thích các hành động của m ình bằng sự suy nghĩ của mình, trong khi đáng lẽ phải giải thích nó bằng các nhu cáu của m ình (dĩ nhiên là những nhu cầu này đều được phản ảnh vào trong đầu óc, đểu được ý thức)”. So với những năm trước đây, nhu cầu của người dân ở nước ta hiện nay đã phát triển ở mức độ cao hơn nhiều và củng rất đa dạng phong phú. Chẳng hạn lấy nhu cầu mặc để làm dẫn chứng, ta thấy bây giờ người dân, nhất là ở khu vực đô thị, đổng bằng, nhất là tầng lớp công chức, thanh thiếu niên.
không quan tâm đến việc mặc thế nào cho bến, cho chắc, mà quan tâm đến việc mặc thế nào cho đẹp. Nếu như trước đây chúng ta không biết tới các khái niệm “m ốt”, “thời trang” thì ngày nay nó đã trở thành khái niệm quen thuộc, m ột nhu cầu trong đời sống xã hội. Hay đối với nhu cầu thông tin cũng vậy. H àng ngày, người dân, nhất là khu vực đô thị được tiếp cận với nhiều thông tin khác nhau qua nhiều kênh truyền tin như: truyền hình, đài, báo, internet, điện thoại.
Việc cập nhật các thông tin trong và ngoài nước trở nên dẻ dàng. Tuy vậy, ở các vùng sâu, vùng xa, ở vùng các dân tộc thiểu số, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, nhu cẩu của họ vẫn <Kíng Ỉ1 m ử r của cá c n h u cầu c ơ h à n nhiỉ: ăn, m ặc và ở. Dối với những gia đình còn đang thiếu ăn thì không thể quan tâm đến các nhu cầu tinh thẩn cao được. Theo ước tính của của Tổng cục Thống kê, nếu lấy chuẩn nghèo là mức chi bình quân dưới 2100 đ/ngày thì năm 1998 tỉ lệ nghèo của các dân tộc thiểu số ở 243 nước ta là 75% và dân tộc Kinh là 31% (Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2000).
Vào thời điểm năm 2000, tỉ lệ hộ nghèo ở Tây Nguyên là 45,8%» ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 33% và vùng Đồng bằng sông H ổng là 20%. Khi đời sống kinh tế khó khăn thì sẽ hạn chế trình độ học vấn ở không ít gia đình, dần tới tình trạng thất học và m ù chữ, như vậy sẽ hạn chế việc tiếp cận với tri thức, với các nhu cầu văn hoá. Các mức độ của nhu cẩu Khi tìm hiểu nhu cẩu của những người thừa hành, người lãnh đạo cần biết được các mức độ của nhu cầu con người. Ở mỗi cá nhân, mỗi nhóm có những mức độ nhu cầu khác nhau và trong những thời điểm cụ thể thì chủ thể cần thoả m ãn những loại nhu cẩu nhất định.
Người lãnh đạo chỉ thúc đẩy được những người dưới quyển khi anh ta thoả m ãn những nhu cầu mà người dưới quyển m ong m uốn.