Tổng quan nghiên cứu

Sự chuyển dịch trật tự kinh tế - an ninh toàn cầu trong thế kỷ XXI đã tạo ra những biến động sâu sắc tại khu vực Đông Bắc Á. Đến năm 2010, quy mô kinh tế Trung Quốc đã chính thức vượt qua Nhật Bản để vươn lên vị trí thứ hai thế giới, chiếm khoảng 12,7% GDP toàn cầu, trong khi tỷ trọng của Nhật Bản thu hẹp về mức khoảng 6,1%. Đứng trước áp lực địa chính trị ngày càng gia tăng, tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Senkaku và chương trình tên lửa hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề tái vũ trang của Tokyo trở thành một trọng tâm an ninh quốc tế mang tính bước ngoặt. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học tập trung giải mã toàn diện tiến trình tái vũ trang của Nhật Bản từ sau năm 1945 đến năm 2019 dưới hai lăng kính then chốt: cơ sở pháp lý nội luật và cơ sở quan hệ quốc tế. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm rõ động cơ chiến lược, phân tích các nấc thang điều chỉnh pháp luật nhằm hợp hiến hóa việc mở rộng quyền lực quân sự, đồng thời đánh giá tác động của tiến trình này tới cán cân quyền lực tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Về mặt học thuật và thực tiễn, công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp nhận diện khả năng và triển vọng chuyển đổi vai trò chiến lược của Tokyo, từ đó lượng hóa các cơ hội và thách thức nhằm đưa ra các khuyến nghị chính sách đối ngoại thiết thực cho Việt Nam trong khuôn khổ đối tác chiến lược sâu rộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu lấy nền tảng từ Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp chặt chẽ với Lý thuyết Chủ nghĩa Hiện thực trong Quan hệ Quốc tế làm khung phân tích chủ đạo. Chủ nghĩa Hiện thực giải thích hành vi tìm kiếm quyền lực, gia tăng năng lực tự vệ và xây dựng liên minh quân sự của Nhật Bản như một phản ứng tất yếu trước cấu trúc an ninh quốc tế vô chính phủ và tình thế lưỡng nan an ninh. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết Thể chế và An ninh toàn diện nhằm luận giải cách thức Nhật Bản sử dụng các công cụ ngoại giao, viện trợ phát triển chính thức ODA và điều chỉnh khung khổ luật pháp để phục vụ mục tiêu chiến lược. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa và xuyên suốt toàn bộ luận văn bao gồm: Tái vũ trang (quá trình khôi phục và hiện đại hóa năng lực quân sự của một quốc gia từng bị giải giáp), Cơ sở pháp lý (hệ thống văn bản luật và các diễn giải quy phạm tạo tính hợp pháp cho hành vi nhà nước), Quyền phòng thủ tập thể (quyền sử dụng vũ lực hỗ trợ đồng minh theo Điều 51 Hiến chương Liên Hợp Quốc), và Thế lưỡng nan an ninh trong Quan hệ quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích, khảo sát hệ thống 85 văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế, văn kiện liên minh và 120 công trình nghiên cứu chuyên khảo xuất bản trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2019. Cỡ mẫu này đảm bảo bao quát các đạo luật then chốt như Hiến pháp năm 1947, Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật năm 1951, Luật Hợp tác Hòa bình Quốc tế năm 1992 và các dự luật an ninh mới. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích logic kết hợp phương pháp lịch sử là nhằm tái hiện tiến trình tái vũ trang một cách khách quan, đặt từng bước đi quân sự vào đúng bối cảnh tương quan lực lượng toàn cầu qua 4 phân kỳ: giai đoạn chiếm đóng từ năm 1945 đến 1952, giai đoạn Chiến tranh Lạnh từ năm 1952 đến 1990, giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh từ năm 1991 đến 2012, và giai đoạn cầm quyền của Thủ tướng Shinzo Abe từ năm 2013 đến 2019. Phương pháp so sánh và dự báo chính trị học được vận dụng triệt để nhằm nhận diện xu thế biến đổi quốc phòng của Tokyo trong tương lai.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tiến trình tái vũ trang của Nhật Bản thể hiện sự chuyển dịch chiến lược mang tính đột phá từ vị thế phòng vệ thụ động sang năng lực răn đe chủ động và phòng thủ tập thể. Thứ nhất, về mặt thể chế pháp lý, Tokyo đã từng bước vượt qua các rào cản nghiêm ngặt của Điều 9 Hiến pháp hòa bình: bãi bỏ mức trần chi tiêu quốc phòng 1% GNP từ năm 1986, thông qua Luật Hợp tác Hòa bình Quốc tế năm 1992 để gửi quân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, nâng cấp Cục Phòng vệ thành Bộ Quốc phòng vào tháng 1 năm 2007 và thành lập Hội đồng An ninh Quốc gia vào tháng 1 năm 2014. Thứ hai, về quy mô khí tài tác chiến, Hải quân Nhật Bản hiện sở hữu 45.500 quân thường trực với 114 tàu chiến mặt nước, đồng thời triển khai kế hoạch mở rộng biên đội tàu ngầm từ 16 lên 22 chiếc vào năm 2021. Thứ ba, Không quân Nhật Bản khẳng định ưu thế công nghệ vượt bậc với 94 tiêm kích Mitsubishi F-2 và 213 tiêm kích F-15J thế hệ 4+, kết hợp chương trình trang bị 28 máy bay tàng hình thế hệ thứ năm F-35A trước năm 2024. Thứ tư, cấu trúc tác chiến được tập trung hóa cao độ thông qua việc thành lập Bộ Tư lệnh Lục quân vào ngày 27 tháng 3 năm 2018, đánh dấu cuộc tái cơ cấu tổ chức lớn nhất trong 64 năm lịch sử của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chứng minh rằng động lực tái vũ trang không thuần túy bắt nguồn từ ý chí nội trị mà chịu sự tác động sâu sắc của môi trường an ninh khu vực. Việc Trung Quốc gia tăng ngân sách quân sự liên tục ở mức hai con số và đơn phương tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông vào ngày 23 tháng 11 năm 2013, kết hợp với 4 vụ thử vũ khí hạt nhân của Triều Tiên tính đến năm 2016, đã đẩy Nhật Bản vào tình thế buộc phải tự chủ quốc phòng. Sự kiện tàu khu trục Aegis Atago đánh chặn thành công tên lửa đạn đạo tầm xa tại vùng biển Hawaii vào ngày 6 tháng 3 năm 2017 là minh chứng điển hình cho khả năng tích hợp phòng thủ tên lửa đa tầng. Khi thảo luận kết quả, toàn bộ dữ liệu về ngân sách quốc phòng và tương quan lực lượng qua các mốc thời gian có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng tăng trưởng chi tiêu quân sự từ năm 1950 đến 2019, song song với bảng so sánh ma trận đối chiếu năng lực hải quân và không quân giữa Nhật Bản với các cường quốc láng giềng. So với các công trình nghiên cứu trước đây, luận văn đã làm sáng tỏ tính hai mặt của việc tái vũ trang: vừa củng cố thế cân bằng chiến lược với liên minh Mỹ - Nhật, vừa kích hoạt nguy cơ chạy đua vũ trang phức tạp tại Đông Á.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược dành cho Việt Nam nhằm thích ứng linh hoạt với chính sách quốc phòng mới của Nhật Bản:

  1. Thiết lập cơ chế tham vấn an ninh chiến lược định kỳ: Giao Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng duy trì 100% các phiên đối thoại an ninh cấp cao và cơ chế tham vấn 2+2 thường niên, hoàn thiện khung pháp lý hợp tác quốc phòng song phương trong giai đoạn 2020 - 2025.
  2. Đẩy mạnh nâng cao năng lực an ninh hàng hải thực thi pháp luật: Giao lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam tiếp nhận chuyển giao công nghệ, tàu tuần tra cỡ lớn và trang thiết bị cứu hộ cứu nạn từ phía đối tác Nhật Bản, nhằm mục tiêu gia tăng khoảng 25% đến 30% hiệu quả giám sát vùng đặc quyền kinh tế trong lộ trình từ năm 2021 đến 2026.
  3. Đa phương hóa quan hệ quốc phòng gắn liền với bảo vệ chủ quyền: Các cơ quan đối ngoại trung ương kiên định thực thi chính sách quốc phòng bốn không, tận dụng sự hỗ trợ kỹ thuật quân sự của Tokyo để xây dựng tiềm lực tự chủ, đặt mục tiêu đạt trên 90% sự đồng thuận tại các diễn đàn khu vực như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng trong tầm nhìn 2025 - 2030.
  4. Nâng cao chất lượng công tác dự báo địa chính trị khu vực: Các viện nghiên cứu chiến lược và cơ sở đào tạo chính trị học cần xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên sâu về an ninh Đông Bắc Á, phấn đấu hoàn thành tối thiểu 5 báo cáo khuyến nghị chính sách mỗi năm bắt đầu triển khai ngay từ năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại và quốc phòng: Cán bộ tại Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Ban Đối ngoại Trung ương có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chính thức để phân tích xu hướng dịch chuyển quyền lực, hỗ trợ xây dựng phương án đàm phán hợp tác an ninh song phương đạt độ chuẩn xác trên 95%.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế: Các chuyên gia tại các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành Chính trị học có thể khai thác hệ thống dữ liệu 3 chương của luận văn để phục vụ giảng dạy các học phần về Ngoại giao Đông Bắc Á và Chiến lược các nước lớn.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành khoa học xã hội: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực và cách thức xử lý hơn 100 tài liệu lịch sử, luật pháp quốc tế cho các đề tài nghiên cứu về an ninh Châu Á - Thái Bình Dương.
  • Phóng viên và chuyên gia phân tích bình luận quốc tế: Cung cấp góc nhìn khách quan, chuẩn xác về mặt thuật ngữ pháp lý và số liệu quân sự phục vụ công tác truyền thông, phân tích thời sự đối ngoại.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của quá trình tái vũ trang Nhật Bản là gì?
Mục tiêu trung tâm của Nhật Bản là trở thành một quốc gia bình thường có đầy đủ quyền lực chính trị tương xứng với vị thế kinh tế top 3 thế giới. Tokyo hướng tới việc tự chủ bảo vệ chủ quyền biển đảo, giảm bớt mức độ phụ thuộc vào chiếc ô an ninh của Mỹ và tạo đối trọng răn đe trước sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc.

Điều 9 Hiến pháp hòa bình Nhật Bản bị ràng buộc và sửa đổi ra sao trong thực tế?
Dù Điều 9 tuyên bố từ bỏ chiến tranh và không duy trì quân đội, các chính phủ Nhật Bản đã vận dụng linh hoạt quyền tự vệ cá nhân theo Hiến chương Liên Hợp Quốc để thành lập Lực lượng Tự vệ năm 1954. Đến giai đoạn 2014 - 2015, chính quyền Thủ tướng Abe đã thông qua nghị quyết cho phép thực thi quyền phòng thủ tập thể, mở rộng phạm vi hoạt động của quân đội ra ngoài lãnh thổ.

Khoản đóng góp 1,3 tỷ USD trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1991 tác động thế nào đến nhận thức của Tokyo?
Sau khi đóng góp 1,3 tỷ USD nhưng vẫn bị cộng đồng quốc tế phê phán là áp dụng chính sách ngoại giao ví tiền do không cử nhân sự tham gia, Nhật Bản đã thay đổi tư duy chiến lược. Sự kiện này là động lực trực tiếp thúc đẩy Quốc hội Nhật Bản thông qua Luật Hợp tác Hòa bình Quốc tế vào tháng 6 năm 1992 để chính thức đưa quân ra nước ngoài làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.

Năng lực trang bị khí tài hiện đại của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản mạnh ở mức độ nào?
Nhật Bản sở hữu tiềm lực quốc phòng hàng đầu châu Á với 213 tiêm kích F-15J, các tàu khu trục Aegis mang tên lửa đánh chặn tối tân và biên đội 22 tàu ngầm hiện đại. Lực lượng này được giới chuyên gia quân sự quốc tế đánh giá vượt trội hơn nhiều nước thành viên thuộc khối quân sự NATO về trình độ công nghệ và năng lực tác chiến biển xa.

Tiến trình tái vũ trang của Nhật Bản đem lại những cơ hội cụ thể nào cho an ninh Việt Nam?
Quá trình này tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tăng cường tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ phát triển, tiếp nhận trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác chấp pháp trên biển và nâng cao năng lực an ninh hàng hải. Đồng thời, sự hiện diện tích cực của Nhật Bản góp phần duy trì hòa bình, bảo đảm tự do hàng hải và thượng tôn pháp luật quốc tế tại khu vực Biển Đông.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý và động lực quan hệ quốc tế định hình tiến trình phát triển quốc phòng của Nhật Bản trong suốt giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến năm 2019.
  • Luận giải thành công bước chuyển biến chiến lược từ phòng vệ lãnh thổ thụ động sang thực thi quyền phòng thủ tập thể và chủ động can dự an ninh quốc tế.
  • Khẳng định nỗ lực hiện đại hóa quân đội với các khí tài tối tân như tiêm kích F-35A và tàu khu trục Aegis là phản ứng tất yếu trước các thách thức an ninh tại Đông Bắc Á.
  • Đánh giá sâu sắc tác động hai mặt của quá trình tái vũ trang đối với cán cân quyền lực khu vực, đồng thời định vị tiềm năng hợp tác chiến lược giữa Nhật Bản và các nước Đông Nam Á.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đối ngoại, an ninh hàng hải và nghiên cứu chiến lược có tính ứng dụng thực tiễn cao dành riêng cho Việt Nam.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan nghiên cứu cần duy trì theo dõi chặt chẽ tiến trình sửa đổi Hiến pháp Nhật Bản trong giai đoạn 2020 - 2025 và cập nhật các định hướng trong Sách trắng Quốc phòng hàng năm của Tokyo. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ đối ngoại hãy khai thác toàn diện luận văn để phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu và hoạch định chính sách an ninh quốc tế.