Chương 1. Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong luật hình sự Việt Nam; Chương 2. Thực tiễn pháp luật về tái phạm, tái phạm nguy hiểm tại tỉnh Hà Giang và các giải pháp nâng cao áp dụng pháp luật. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, các đặc điểm của tái phạm, tái phạm nguy hiểm 1. Khái niệm, đặc điểm của tái phạm Thuật ngữ “"recidivism" là thuật ngữ trong tiếng Anh được sử dụng để chỉ sự tái phạm. Nó xuất phát từ từ "recidivus" trong tiếng Latinh, có nghĩa là "sự lặp lại". Trên cơ sở định nghĩa của Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, "tái phạm" có nghĩa là "mắc lại tội cũ, sai lầm cũ".
Tái phạm, trong khía cạnh rộng hơn, đề cập đến việc lặp lại hành vi của chính mình, có thể là vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật hoặc vi phạm tội phạm. Thường thì, những hành vi tái phạm là những hành vi không được xã hội mong muốn. Khi xét từ góc độ pháp luật hình sự, "tái phạm" được hiểu là việc lặp lại hành vi phạm tội của chính mình. Do đó, một trong những dấu hiệu đầu tiên của tái phạm là sự lặp lại hành vi phạm tội.
Hành vi tái phạm có thể trùng lặp với hành vi phạm tội trước đó hoặc có thể không trùng lặp về hình thức lỗi, và nó có thể liên quan đến cùng một loại tội phạm hoặc khác loại tội phạm.Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ “tái phạm” được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên, nội dung tái phạm ở mỗi ngành luật lại được định nghĩa, giải thích khác nhau. Cụ thể, khái niệm "tái phạm trong quan hệ hành chính" được quy định rõ tại khoản 5 Điều 2 của Luật xử lý vi phạm hành chính như sau: Tái phạm trong quan hệ hành chính xảy ra khi cá nhân hoặc tổ chức đã bị xử lý về vi phạm hành chính, nhưng thời hạn xem xét về vi phạm hành chính chưa hết, kể từ ngày kết thúc thời gian thực hiện quyết định xử phạt hoặc biện pháp xử lý hành chính, hoặc từ ngày kết thúc thời hiệu thi hành quyết định đó, mà cá nhân hoặc tổ chức này lại tiến hành vi phạm hành chính đã bị xử lý. 8 Tái phạm trong quan hệ lao động được ghi nhận tại khoản 3 Điều 125 Bộ luật lao động được hiểu như sau: “Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này” Ngoài ra, khái niệm tái phạm được ghi nhận trong BLHS năm 2015 đã thể hiện đầy đủ bản chất cũng như dấu hiệu, điều kiện xác định tái phạm, đó là: Tái phạm là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý hoặc do vô ý về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong thời gian chưa được xóa án tích về tội phạm trước đã bị kết án. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm có tính nguy hiểm cao hơn người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu vì họ đã bị kết án nhưng phạm tội lại trong thời gian chưa được xóa án tích về tội đã bị kết án.
Một là, việc bị kết án và chưa được xóa án tích là một điều kiện tiên quyết để xem xét khả năng tái phạm của một người phạm tội. Khi đã bị kết án, có nghĩa là người đó đã bị Tòa án nhân dân xử phạt, không phân biệt mức độ nghiêm trọng của tội phạm, bất kể là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, cũng như lỗi cố ý hay vô ý. Tuy nhiên, không phải tất cả người bị kết án đều có án tích. Có các trường hợp đã bị kết án nhưng không coi là có án tích, điều này được quy định tại khoản 2 của Điều 69 trong Bộ luật Hình sự và khoản 1 của Điều 107 BLHS (đối với người dưới 18 tuổi bị kết án).
Vì vậy, chỉ những người bị kết án và không thuộc các trường hợp nêu trên mới được coi là có án tích. Tuy nhiên, án tích sẽ được xóa theo quy định tại các điều từ khoản 1 của Điều 69 đến Điều 73 và khoản 2 của Điều 107 BLHS. Hai là, người đang có án tích chỉ áp dụng khi họ phạm tội mới và tội phạm đó có tính chất cố ý hoặc là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Người đang có án tích đang thuộc vào nhóm đối tượng cần 9 được quan tâm, chăm sóc và giáo dục trong quá trình hòa nhập và tái hòa nhập vào cộng đồng.
Đây là giai đoạn nhạy cảm khi tư tưởng, thái độ và ý thức pháp luật của họ có thể thay đổi theo hướng tích cực hoặc tiêu cực sau khi thụ án tù. Nếu họ tiếp tục phạm tội trong giai đoạn này, điều này có thể cho thấy ý thức pháp luật của họ chưa được thay đổi tích cực và hình phạt trước đây không đạt được mục tiêu giáo dục và cải tạo. Do đó, trong trường hợp tái phạm, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là tội phạm mới mà người đang có án tích phạm phải là tội phạm mới, có nghĩa là các tội phạm mà họ đã thực hiện trước đây nhưng chưa bị phát hiện, và hiện tại bị phát hiện nhưng vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu không có tội phạm mới, người đang có án tích sẽ không bị xem xét về tái phạm. Thêm vào đó, để được áp dụng điều kiện tái phạm, tội phạm mới này phải là tội phạm do cố ý (không phân biệt mức độ nghiêm trọng của tội phạm mới này, bất kể là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng) hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Trong nghiên cứu pháp lý, khái niệm tái phạm được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, và sau đây là ba quan điểm: Quan điểm thứ nhất: Cho rằng tái phạm là tình trạng một người trước đã bị kết án về một tội, về sau lại phạm tội và bị truy tố nữa [26, tr. Theo đó, các điều kiện của tái phạm gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội lại phạm tội mới.
Quan điểm thứ hai: Tái phạm là trường hợp của người đã từng bị kết tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội lần nữa [27, tr. 10 Quan điểm thứ ba: Tái phạm là trường hợp phạm tội sau khi đã bị xử phạt và chưa được xoá án tích về tội đã phạm trước đó. Từ sự phân tích trên, học viên đồng tình với khái niệm tái phạm được ghi nhận trong BLHS năm 2015 với sự sửa đổi của mình như sau: Tái phạm là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý hoặc do vô ý về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong thời gian chưa được xóa án tích về tội phạm trước đã bị kết án, có tính nguy hiểm cao hơn người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu vì họ đã bị kết án nhưng phạm tội lại trong thời gian chưa được xóa án tích về tội đã bị kết án. Đặc điểm của tái phạm Một là, tái phạm là hành vi phạm tội lặp lại.
Bản chất của tái phạm là sự lặp lại hành vi phạm tội do đó một trong các dấu hiệu khi nhắc đến tài phạm đó chính là hành vi phạm tội lặp lại. Hai là, người thực hiện tội phạm trước đây đã bị kết án và bị xử phạt theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Hành vi phạm tội trước đó và hành vi phạm tội lần này được xem là hai tội phạm độc lập nhau. Việc áp dụng hình phạt cho tội phạm trước đó đã giúp giới hạn tác động của tội phạm đó đối với xã hội.
Tuy nhiên, nếu người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới sau khi đã hoàn thành hình phạt, hành vi này sẽ bị coi là tội phạm tái phạm. Điều quan trọng là những quy định về hình phạt và thời gian chờ giữa các lần phạm tội cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo công bằng trong việc xử lý tội phạm và đồng thời đảm bảo an toàn và trật tự trong xã hội. Ba là, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới trong một khoảng thời gian nhất định sau khi bị kết án lần thứ nhất. Về phương diện hợp pháp, các nhà lập pháp thường thiết lập "một khoảng thời gian cố định" bắt đầu từ thời điểm bị kết án lần đầu.
Khi thời gian này kết thúc, người bị kết án 11 sẽ không còn bị xem là người vi phạm tội nữa và hành vi phạm tội mới sẽ không được coi là việc tái phạm. Thiết lập thời gian chờ này nhằm tránh tình trạng vô tội vong lương, đồng thời cũng tạo điều kiện cho người bị kết án có cơ hội hòa nhập lại với xã hội sau khi đã hoàn thành hình phạt và không tái phạm. Chính vì vậy, quy định về thời gian chờ này cần được xem xét kỹ càng và cân nhắc để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc xử lý tội phạm. Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành không có quy định cụ thể thế nào là án tích nhưng dựa trên các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và sự đúc kết từ bản thân học viên, học viên cho rằng: Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.
Trong khoảng thời gian cụ thể quy định bởi luật pháp hình sự, người bị kết án, sau khi thực hiện bản án (bao gồm cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án), vẫn có thể tiếp tục mang theo tiền án hoặc chưa được xóa bỏ tiền án theo quy định của pháp luật. Như vậy, khi nhắc đến án tích bao giờ cũng gắn với việc một người bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án và được coi là xóa án tích khi hết thời hạn thử thách mà pháp luật quy định.