Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái niệm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) không quy định khái niệm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, dưới góc độ luật hình sự, các nhà khoa học có những quan điểm khác nhau về khái niệm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Có thể khái quát một số quan điểm nổi bật như sau: Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” 1.
Cùng quan điểm này nhưng tiếp cận dưới góc độ Luật hình sự hiện hành cũng cho rằng: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông trong khi tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác”2. Các quan điểm nêu trên mới chỉ nêu định nghĩa về hành vi chứ chưa làm rõ khái niệm tội phạm này. Tác giả Trần Minh Hưởng lại cho rằng “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định của Nhà 1 Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự - Phàn các tội phạm, Tập VII – Các tội xâm phạm quy định về an toàn giao thông, Nxb Thành phố HCM. 2 Bài viết “Bình luận BLHS 2015: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”https://luatgiaiphong.com/binh-luan-toi-danh/binh-luan-blhs-2015-toi-vi-pham-quy-dinh-ve-tham-gia-giao- thong-duong-bo, Truy cập ngày 20/12/2022.
nước về an toàn giao thông đường bộ”3. Quan điểm này còn chung chung, chưa đầy đủ dấu hiệu về chủ thể, thiệt hại do hành vi vi phạm quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Tác giả Ngô Ngọc Thủy cho rằng “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhưng mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ sau đó gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng của người khác”4. Khái niệm này tiếp cận xây dựng từ quy định của BLHS năm 1999 nên cũng chưa phù hợp với quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015.
Theo Luật sư Phạm Ngọc Minh: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác”5. Khái niệm này tương đối toàn diện nhưng dấu hiệu hậu quả của hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ không chỉ chỉ rõ là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó phải được quy định trong BLHS. Theo tác giả luận văn, để xây dựng được khái niệm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cần phải tiếp cận từ khái niệm, đặc điểm của tội phạm; các dấu hiệu pháp lý về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015. Căn cứ theo quy định tại Điều 8 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015), khái niệm tội phạm đượ cụ thể hóa 3 Trần Minh Hưởng (2010) “Chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”, Trong sách: Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2010.
4 Nguyên Ngọc Hòa (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 5 Bài viết Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đăng tại https://hinhsu.co/toi-vi-pham- quy-dinh-ve-tham-gia-giao-thong-duong-bo/n20161028120823081.html, truy cập ngày 25/12/2022. như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Theo định nghĩa này có thể thấy các đặc điểm của hành vi bị coi là tội phạm được xác định trong định nghĩa về tội phạm là: Đặc điểm nguy hiểm cho xã hội; Đặc điểm có lỗi (cố ý hoặc vô ý); Đặc điểm được quy định trong luật hình sự (trái pháp luật hình sự); Đặc điểm do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện; Đặc điểm phải chịu hình phạt.
Cụ thể: Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội: Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một thuộc tính của tội phạm thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của luật hình sự. Nó là thuộc tính cơ bản và quan trọng nhất, quyết định những thuộc tính khác của tội phạm. Việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm với tư cách là một thuộc tính xã hội của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là chìa khóa để làm sáng tỏ bản chất xã hội và giai cấp của các chế định tội phạm và hình phạt, từ đó làm cơ sở cho việc xã hội hóa đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tính nguy hiểm cho xã hội được coi là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất, điều này đã được thể hiện qua các quy định của pháp luật: Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 đã khẳng định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội…”.
Như vậy tính nguy hiểm chính là dấu hiệu quan trọng nhất quyết định một tội phạm, nó được thể hiện thông qua hành vi nguy hiểm cho xã hội. Khoản 4 Điều 8: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Như vậy dấu hiệu tội phạm được coi là dấu hiệu tiên quyết, quyết định các dấu hiệu khác. Một hành vi có đủ 3 dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội của nó là không đáng kế thì không bị coi là tội phạm.
Tính nguy hiểm cho xã hội cũng là căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của điều 29 Bộ luật hình sự 2015. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây: a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; b) Khi có quyết định đại xá. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; c, Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt được Nhà nước và xã hội thừa nhận.” Như vậy, chúng ta có thể thấy tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một thuộc tính phát sinh trong mối quan hệ giữa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm với xã hội và chỉ có thể nhận biết bằng tư duy. Thứ hai tính có lỗi: Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, thể hiện dưới dạng cố ý và vô ý, là một dấu hiệu rất quan trọng trong cấu thành tội phạm.
Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản. Người chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không phải chỉ đơn thuần vì người này có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã có lỗi trong thực hiện hành vi khách quan đó. Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như khả năng gây ra hậu quả từ hành vi đó. Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là sự kết hợp của sự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Căn cứ vào yếu tố ý chí và yếu tố lý trí mà lỗi được phân ra làm 2 loại là: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Cũng trên cơ sở ý chí và lý trí của chủ thể vi phạm pháp luật mà khoa học pháp lý cũng phân biệt lỗi cố ý gồm 2 hình thức: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý cũng có 2 hình thức: lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả. Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự: Tính trái pháp luật hình sự cũng được thể hiện thông qua Điều 8 là: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội…được quy định trong Bộ luật hình sự.