Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH, QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Theo Khoản 1 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Theo Điều 158 BLDS năm 2015 quy định: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản theo quy định của pháp luật.88] Qua đó, quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu (Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản) [26, tr.
98], quyền sử dụng (Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản) [26, tr. 101] và quyền định đoạt (Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản) [26, tr. Để bảo vệ quyền sở hữu của công dân, Nhà nước có nhiều công cụ và biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp nghiêm khắc nhất là sử dụng PLHS, bằng cách quy định những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu là tội phạm và quy định các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người thực hiện tội phạm ấy. Hành vi TCTS thuộc nhóm hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, hành vi "chiếm đoạt tài sản" có thể được hiểu theo định nghĩa sau: “Chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển 8 dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình”.184] Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về tội TCTS, cụ thể như sau: Quan điểm thứ nhất: “(Tội) trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý”.209] Theo định nghĩa này, nội hàm quan trọng của tội TCTS gồm hai dấu hiệu: - Hành vi lén lút - Hành vi chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý Quan điểm thứ hai: “TCTS là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết án về tội CĐTS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.192] Định nghĩa này cũng cho thấy các dấu hiệu: - Hành vi lén lút - Hành vi chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác - Trị giá tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng người thực hiện đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Như vậy, so với định nghĩa trên, định nghĩa này đã cụ thể hóa hơn dấu hiệu trị giá tài sản bị chiếm đoạt làm ranh giới phân biệt giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Quan điểm thứ ba: “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác”.207] 9 Định nghĩa này cho thấy 2 dấu hiệu: - Hành vi lén lút - Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. So với hai định nghĩa trên, định nghĩa này có sự khác biệt: Trong khi hai định nghĩa trên đều xác định tội TCTS là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý thì định nghĩa này lại định nghĩa là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.
Tài sản đang có người quản lý được hiểu là tài sản đó có thể thuộc sở hữu của người quản lý hoặc có thể không thuộc sở hữu của người quản lý, mà người đó chỉ được giao quản lý. Tài sản của người khác được hiểu là tài sản thuộc sở hữu của người khác chứ không thuộc tài sản của người đang đề cập đến. Tài sản đó có thể đang do chính người khác đó sở hữu quản lý hoặc có thể đang giao cho một người nào đó khác quản lý. Như vậy, có thể thấy, về cơ bản, các định nghĩa trên đều nêu được các dấu hiệu cơ bản của tội TCTS.
Tuy nhiên, các định nghĩa trên chưa toàn diện vì chưa nêu đầy đủ đặc điểm của tài sản là đối tượng của tội TCTS là thuộc người sở hữu hay người quản lý hay cả hai trường hợp. Đặc điểm nổi bật của tội TCTS là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị mất tài sản, chỉ sau khi tài sản đã bị chiếm đoạt thì họ mới biết bị mất tài sản. Như phân tích ở trên, hành vi TCTS có một số đặc trưng như sau: (1). Hành vi “lén lút” Đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của tội “Trộm cắp tài sản” là hành vi “lén lút”, bởi vì không có việc lén lút thì không phải là trộm cắp.
Đối tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi “lén lút” là tài sản thuộc sở hữu của người khác hoặc đang có người quản lý 10 Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc tài sản đang có người quản lý. Chủ sở hữu tài sản Theo pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản là người có đầy đủ 3 quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định pháp luật. Có đầy đủ 3 quyền này mới là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản và được pháp luật bảo vệ. Hay nói cách khác, chủ sở hữu là người có quyền: tự nắm giữ, quản lý, chi phối tài sản theo ý mình mà không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian; có quyền khai thác các công dụng, lợi ích, giá trị của tài sản và quyết định về số phận của tài sản đó.
Người quản lý tài sản Người quản lý tài sản không phải là chủ sở hữu tài sản và không có quyền định đoạt tài sản mà chỉ được chủ tài sản giao cho nắm giữ hoặc trông coi, bảo vệ tài sản. Có thể nói, trộm cắp là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút. Từ phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về tội TCTS cụ thể như sau: "Trộm cắp tài sản là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý bằng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác hoặc đang do người khác quản lý và theo quy định của BLHS hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự". Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1.
Chủ thể của tội trộm cắp tài sản Chủ thể của tội TCTS là chủ thể thường. Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về tội TCTS thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 173 BLHS, vì theo quy định tại khoản 2 11 Điều 12 BLHS thì, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của BLHS, trong khi đó khoản 1 Điều 173 là tội phạm ít nghiêm trọng và khoản 2 Điều 173 là tội phạm nghiêm trọng. Khách thể của tội trộm cắp tài sản Khách thể của tội TCTS là quan hệ sở hữu: “tội TCTS xâm hại quan hệ sở hữu”. Hành vi phạm tội TCTS xâm phạm đến quan hệ sở hữu, cụ thể là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ tài sản đối với tài sản bị trộm cắp.
Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Hành vi khách quan của tội phạm Đặc điểm của tội TCTS là có hành vi “chiếm đoạt” bằng hình thức lén lút, thủ đoạn là lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản. Tội TCTS có thể diễn ra trong một số trường hợp đặc thù sau: - Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản, khi có điều kiện mới lén lút chiếm đoạt tài sản. - Người phạm tội lợi dụng địa điểm đông người, như nhà ga, bến xe để chiếm đoạt tài sản của người khác. - Người phạm tội lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt tài sản nơi công cộng vì không có người trông coi.
Dấu hiệu đặc trưng của tội TCTS thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản. Trong ý thức chủ quan của người phạm tội, họ mong muốn che giấu hành vi phạm tội 12 của mình, họ sợ người quản lý tài sản phát hiện ra hành vi chiếm đoạt tài sản của mình.193] Hậu quả của tội phạm Tội TCTS gây ra hậu quả là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Tài sản bị chiếm đoạt do hành vi trộm cắp gây ra thường là tiền các loại, ngoại tệ, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như phiếu công trái, ngân phiếu, vàng, bạc, kím khí quý, đá quý và các động sản có giá trị khác … 1. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản Người phạm tội TCTS có lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, họ mong muốn chiếm đoạt được tài sản của nạn nhân.
Mục đích chiếm đoạt bao giờ cũng có trước hành vi chiếm đoạt. Do đó, có thể nói dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội TCTS là mục đích chiếm đoạt tài sản. Hình phạt của tội trộm cắp tài sản Điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định hình phạt cho tội trộm cắp tài sản, cụ thể như sau: Khung 1: Có mức hình phạt: bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung 2: Có hình phạt từ 02 đến 07 năm tù.
Khung 3: Có hình phạt từ 07 đến 15 năm tù. Khung 4: Có hình phạt từ 12 đến 20 năm tù.