Khóa luận Đào Việt Quốc: Điều tra tài nguyên cây thuốc ở xã Húc Động, Bình Liêu

Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc tại Húc Động, Bình Liêu, Quảng Ninh. Khám phá danh mục cây thuốc và tri thức y học cổ truyền của người dân tộc Sán Chỉ.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ

2024

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tài nguyên cây thuốc Húc Động

Húc Động, Bình Liêu, Quảng Ninh là một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên với đa dạng cây thuốc quý. Khu vực này sở hữu khí hậu ôn hòa, độ ẩm cao và đất đai肥dục, tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của hàng trăm loài cây thuốc truyền thống. Những cây thuốc tại đây không chỉ có giá trị y học cao mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Việc khai thác bền vững và bảo tồn tài nguyên này là ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế địa phương.

1.1. Địa lý và khí hậu thích hợp

Húc Động nằm ở vùng núi trùng điệp, với khí hậu nhiệt đới ẩm. Nhiệt độ trung bình từ 20-25°C, lượng mưa hàng năm 1.500-2.000mm tạo môi trường tối ưu. Độ cao 300-800m so với mực nước biển giúp nhiều loài cây thuốc cao quý phát triển mạnh mẽ và tích lũy hoạt chất dược liệu hiệu quả.

II. Các loài cây thuốc chính tại Húc Động

Khu vực này là nơi phân bố của nhiều loài cây thuốc quý như: sâm, mật nhân, lâm đoạn, tam thất, và các loài dây leo thuốc. Mỗi loài đều có đặc tính trị bệnh riêng, được sử dụng trong y học cổ truyền và y học hiện đại. Cây thuốc tại đây được bảo vệ bởi pháp luật, với các biện pháp quản lý bền vững nhằm duy trì nguồn tài nguyên cho thế hệ tương lai.

2.1. Cây sâm Việt Panax Vietnamesis

Sâm Việt là loài cây quý hiếm, chỉ phân bố tại Quảng Ninh. Nó có tác dụng bổ khí, tăng sức đề kháng, ổn định huyết áp. Giá trị thương mại cao nhất trong nhóm cây thuốc địa phương. Mỗi năm, chỉ thu hoạch được lượng nhỏ do điều kiện sinh trưởng khắt khe, khiến sâm Việt trở thành sản phẩm vàng của Bình Liêu.

2.2. Mật nhân và các loài cây khác

Mật nhân có công dụng bổ máu, chữa mất ngủ và giảm stress. Lâm đoạn dùng để điều trị đường hô hấp. Các loài dây leo như khướu, lay ơn cũng được khai thác để sản xuất các loại thuốc bài vệ sinh và bùn dưỡng da. Đây là cơ sở cho phát triển du lịch y tế tại Húc Động.

III. Giá trị kinh tế và y học của tài nguyên cây thuốc

Tài nguyên cây thuốc tại Húc Động có giá trị kinh tế quan trọng, tạo thu nhập cho cộng đồng địa phương thông qua khai thác và sản xuất dược phẩm. Các doanh nghiệp dược phẩm lớn đặt hàng trực tiếp từ Bình Liêu nhằm đảm bảo chất lượng nguyên liệu. Ngoài ra, việc phát triển thương hiệu sản phẩm thuốc thảo mở ra cơ hội xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị bổ sung cho nền kinh tế tỉnh.

3.1. Thị trường tiêu thụ cây thuốc

Thị trường trong nước đang phát triển mạnh mẽ với nhu cầu sản phẩm y học cổ truyền tăng 15-20% hàng năm. Các sản phẩm từ Húc Động được phân phối tại các cửa hàng thuốc, chợ dân sinh, và các nhà máy dược phẩm. Nhu cầu xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á cũng đang gia tăng, mở ra tiềm năng lớn.

IV. Biện pháp bảo vệ và phát triển bền vững

Để duy trì nguồn tài nguyên cây thuốc cho lâu dài, cần thiết phải áp dụng các biện pháp bảo vệ và khai thác bền vững. Chính quyền địa phương đã xây dựng các khu bảo tồn cây thuốc, quy định khoảng cách thu hoạch và thời gian tái sinh. Đồng thời, khuyến khích trồng cây thuốc theo mô hình nông lâm kết hợp để tăng sản lượng mà không làm suy kiệt tài nguyên tự nhiên.

4.1. Chiến lược bảo tồn và tái tạo

Các dự án trồng mới loài cây thuốc quý đang được triển khai rộng rãi. Nông dân được hỗ trợ kỹ thuật, vốn vay để xây dựng vườn thuốc sinh thái. Các khu vực trồng thuốc được quản lý khép kín, không sử dụng hóa chất độc hại, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Việc này vừa bảo vệ tài nguyên, vừa nâng cao thu nhập nông dân.

4.2. Liên kết cộng đồng và du lịch sinh thái

Phát triển du lịch sinh thái dựa trên tài nguyên cây thuốc giúp tạo thêm thu nhập cho cộng đồng. Các tour tham quan vườn thuốc, trải nghiệm chế biến dược liệu hút khách du lịch. Liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà nước đảm bảo lợi ích chung, phát triển bền vững Húc Động.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tài nguyên cây thuốc thế giới 1. Số loài cây thuốc thế giới Tính đến tháng 4 năm 2021 cơ sở dữ liệu WCVP ghi nhận 1.297 danh pháp thực vật, 996.093 ở cấp độ loài đại diện cho 342.953 loài thực vật có mạch được chấp nhận [31] (Bảng 1. Tổng số loài thực vật trên thế giới được ước tính từ 400.

Theo thống kê, trên thế giới ước tính có tới hơn 80.000 loài cây thuốc được sử dụng [35]. Nếu so sánh số loài cây thuốc với toàn bộ số loài thực vật trên thế giới, tỷ lệ này ước tính khoảng 23%. So sánh ba danh sách trực tuyến về thực vật có mạch [31] LCVP WCVP WorldPlants Tổng số tên ghi nhận 1,315,562 1,383,297 Chưa xác định Số loài được ghi nhận 351,180 342,953 352,048 Tên đồng nghĩa 846,279 925,561 Chưa xác định Số loài đang được kiểm tra 63,072 50,986 Chưa xác định Số họ 564 452 525 Số chi 13,460 13,778 14,361 1. Kinh tế thảo dược thế giới Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 60% dân số thế giới dựa vào thuốc thảo dược và khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nó cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu [25].

Vào năm 2003, WHO đã ước tính thị trường thuốc thảo dược lúc đó có giá trị lên tới 60 tỷ USD [26]. Con số đó đã lên tới 216,4 tỷ USD vào năm 2023 theo báo cáo mới nhất của Fortune Business Insights và dự kiến sẽ tăng từ 233,08 tỷ USD năm 2024 lên 437 tỷ USD vào năm 2032. Bảo tồn cây thuốc trên thế giới Theo liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế và quỹ động vật hoang dã thế giới, khoảng 15.000 loài cây thuốc đang bị đe dọa tuyệt chủng do khai thác quá mức cũng như do môi trường sống bị phá hủy [27] và khoảng 20% lượng cây thuốc trong tự nhiên gần như đã bị cạn kiệt khi tình hình dân số và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng [39]. Vấn đề khai thác quá mức nguồn cây thuốc đã được chú ý trong thời gian dài nhưng tình trạng này đã không được cải thiện dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài cây thuốc, đặc biệt ở một số quốc gia như Trung Quốc [33], [36], Ấn Độ [32], [33], Kenya [32], 2 Nepal [32], Tanzania [40] và Uganda [40].

Vì vậy các khu bảo tồn thiên nhiên đã được ra đời với mục đích bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học [28], [38], ước tính đã có 12.700 khu bảo tồn trên toàn thế giới chiếm diện tích 13,2 triệu 𝑘𝑚2 tương đương 8,81% bề mặt trái đất [34]. Tài nguyên cây thuốc tại Việt Nam 1. Điều kiện tự nhiên Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng nhất trên đất liền khoảng 500 km; nơi hẹp nhất gần 50 km [51].

Địa hình Việt Nam đa dạng: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa, phản ánh lịch sử phát triển địa chất, địa hình lâu dài trong môi trường gió mùa, nóng ẩm, phong hóa mạnh mẽ. Địa hình thấp dần theo hướng tây bắc - đông nam, được thể hiện rõ qua hướng chảy của các dòng sông lớn. Đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp. Địa hình thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ.

Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt. Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ bắc vào nam và từ đông sang tây [51]. Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp.

Việt Nam có hệ thực vật phong phú, đa dạng (khoảng 14.600 loài thực vật). Thảm thực vật chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới, gồm các loại cây ưa ánh sáng, nhiệt độ lớn và độ ẩm cao [51]. Tài nguyên cây thuốc tại Việt Nam Năm 2016 Viện Dược liệu – Bộ Y tế đã tổng hợp danh lục cây thuốc Việt Nam với 5.084 loài thuộc 325 họ của 8 ngành thực vật bậc cao có mạch bao gồm 4.524 loài cây thuốc trong tự nhiên và 521 loài cây thuốc trồng [23] Như vậy trong tổng số 12.000 loài thực vật bậc cao tại Việt Nam[10], tỷ lệ cây cỏ được sử dụng làm thuốc lên tới 42%. Đây là một tỷ lệ đáng kinh ngạc so với tỷ lệ trung bình của thế giới đã được tính toán là 23%, tương đương với tỷ lệ cây cỏ làm thuốc tại Trung Quốc (41%) – quốc gia được đánh giá có đa dạng sinh học cây thuốc đứng đầu thế giới [27].

Trong hơn 5000 loài cây thuốc ở Việt Nam, có khoảng 200 loài đã được đưa vào khai thác thương mại. Nhiều loài có giá trị cao được thế giới công nhận như: sâm Ngọc 3 Linh, thông đỏ, hòe hoa, trinh nữ hoàng cung, giảo cổ lam,… Với lịch sử lâu đời về sử dụng cây dược liệu trong thực tiễn y tế và sự phát triển của khoa học công nghệ, cây dược liệu ở Việt Nam là một kho tàng vô giá để tạo ra các sản phẩm thuốc chữa bệnh, thực phẩm thực dưỡng, đồ uống, hoá mỹ phẩm… Theo Cục Quản lý Y - Dược cổ truyền (Bộ Y tế), hàng năm, tổng số dược liệu được sử dụng trong ngành Y tế nước ta ước tính khoảng 100.000 tấn, với tổng giá trị thị trường trên 400 triệu USD/năm [46]. Trong các vùng phát triển về trồng dược liệu, Trung du miền núi phía Bắc đạt 50,8 nghìn ha (chiếm 65,6%) diện tích dược liệu cả nước, riêng với cây dược liệu lâu năm đạt 43,8 nghìn ha chiếm 91,6% tổng diện tích cây dược liệu lâu năm trên cả nước. Đối với các cây dược liệu lâu năm, diện tích cây hồi lớn nhất đạt 36,6 nghìn ha, chiếm 47,2% diện tích dược liệu cả nước, phân bố chủ yếu tại Lạng Sơn và một số tỉnh ở Trung du miền núi phía Bắc.

Hiện có 50/92 loài dược liệu được trồng với quy mô trên 10 ha. Một số loài có vùng trồng lớn như: hồi, quế, hòe, actiso, thanh hao hoa vàng, đinh lăng, kim tiền thảo, diệp hạ châu, trinh nữ hoàng cung, gấc, nghệ [10]. Mặc dù vậy, nguồn dược liệu chính cung cấp cho thị trường vẫn đến từ rừng (chiếm khoảng 70%) [10], vì vậy công tác bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này là vô cùng quan trọng. Theo thống kê của cục bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tính tới năm 2021, đã có 179 KBT ở Việt Nam với tổng diện tích là 2.073,51 ha, được rà soát theo quy định của Luật Đa dạng sinh học, gồm 34 vườn quốc gia; 58 khu dự trữ thiên nhiên; 26 khu bảo tồn loài và sinh cảnh; 61 khu bảo vệ cảnh quan.

Việt Nam nằm trong điểm nóng ĐDSH Ấn-Miến (Indo- Burma) - một trong 30 khu vực có ĐDSH không thể thay thế trên thế giới, 104 vùng ĐDSH quan trọng (KBA) và 6 vùng sinh thái ưu tiên toàn cầu [2]. Nước ta hiện đã lưu giữ và bảo tồn 1.531 nguồn gen thuộc 884 loài cây thuốc, có nhiều loài quý hiếm thuộc diện có nguy cơ bị tuyệt chủng, loài đặc hữu, loài có giá trị kinh tế; tại 7 vườn cây thuốc vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội); vùng trung du phía Bắc (Tam Đảo), vùng núi cao phía Bắc (Lào Cai), vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa), vùng Tây Nguyên (Đà Lạt), vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Phú Yên) và vùng Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh) [50]. Một số Vườn Quốc gia ở Việt Nam và số lượng cây thuốc được bảo vệ trong đó [11] STT Tên Vườn Quốc gia Diện tích (ha) Số loài cây thuốc 1 VQG Bạch Mã 22.031 432 2 VQG Ba Bể 7.610 432 3 VQG Bến En 16.200 350 5 VQG Côn Đảo 19.998 200 4 STT Tên Vườn Quốc gia Diện tích (ha) Số loài cây thuốc 6 VQG Cúc Phương 22.000 365 7 VQG Tam Đảo 5.878 310 9 VQG Yok Đôn 115. Tỉnh Quảng Ninh Quảng Ninh là tỉnh biên giới, miền núi, hải đảo, nằm ở địa đầu vùng Đông Bắc Việt Nam, với tổng diện tích tự nhiên là 610.

Trong đó diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp chiếm khoảng 70,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh [48]. Khí hậu Quảng Ninh là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa hè nóng ẩm và mùa đông lạnh khô. Tổng tích ôn hàng năm dồi dào, trên 8.000ºC ở vùng đồi núi thấp, trung du và đồng bằng; trên 7. Như vậy khí hậu rất thích hợp cho nhiều loại cây nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới.

Từ nền đất feralit và lượng nhiệt nhiều, không khí nóng ẩm, mưa nhiều, đất rừng Quảng Ninh nhiều mùn, cây rừng phát triển thuận lợi [3] Theo điều tra của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có nguồn dược liệu đa dạng và phong phú. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã xác định có 948 loài cây thuốc thuộc 182 họ, 561 chi khác nhau trong đó có rất nhiều loài là dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao như ba kích (Morinda officinalis), trà hoa vàng (Camellia chrysantha), hồi (Illicium verum), quế (cinnamomum cassia) , kim ngân (Lonicera japonica)…[48] Trên địa bàn tỉnh, còn một số khu vực có thảm thực vật nguyên vẹn, trữ lượng dược liệu lớn như: Vườn quốc gia Bái Tử Long, Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, Rừng quốc gia Yên tử,… Bảng 1. Số loài cây thuốc tại một số khu vực tỉnh Quảng Ninh STT Khu vực Số loài cây thuốc TLTK 1 Rừng Đồng Sơn – Kỳ Thượng 456 [7] 2 Rừng Yên Tử 451 [18] 3 Đảo Ba Mùn – VQG Bái Tử Long 161 [13] 4 Xã Bằng Cả - Hoành Bồ 277 [15] Về kinh tế dược liệu, Quảng Ninh đã có nhiều điểm sáng về trồng và phát triển dược liệu. Tại huyện Tiên Yên, diện tích trồng dược liệu trên 26 ha, trong đó có gần 10 ha trồng dây thìa canh, cà gai leo, địa hoàng, kim ngân, hà thủ ô đỏ, cát sâm, ba kích tím, kim tiền thảo.

Sản lượng hằng năm đạt hơn 26 tấn các loại. Huyện Ba Chẽ có diện tích trồng cây dược liệu là 266 ha, sản lượng bình quân gần 115 tấn dược liệu các loại trên một năm. Huyện Ba Chẽ cũng đã quy hoạch các vùng trồng cây dược liệu và triển 5 khai Đề án bảo tồn và phát triển dược liệu giai đoạn 2021-2025, trong đó, phấn đấu trồng mới trên 100ha/năm các loài dược liệu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ