Luận văn: Chiến lược tài chính phát triển XNK tại Đồng Nai - Nguyễn Văn Sĩ

Tài liệu luận văn phân tích chiến lược tài chính hỗ trợ phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp tại Đồng Nai, đưa ra thực trạng và giải pháp.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2006

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: LÝ LUẬN TỔNG QUAN

1.1. Chiến lược tài chính

1.1.1. Đối tượng và mục đích của chiến lược tài chính

1.1.2. Nội dung cơ bản của chiến lược tài chính

1.1.3. Quyết định phân phối

1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đối với sự phát triển của nền kinh tế

1.2.1. Hoạt động nhập khẩu

1.2.1.1. Vai trò của hoạt động nhập khẩu
1.2.1.2. Những nguyên tắc và chính sách nhập khẩu

1.2.2. Hoạt động xuất khẩu

1.3. Kinh nghiệm của một số nước về chiến lược tài chính hỗ trợ xuất khẩu, nhập khẩu

1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản

1.3.2. Kinh nghiệm của các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) Châu Á

1.3.3. Kinh nghiệm của các nước ASEAN–4 : Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipines

1.3.4. Những bài học kinh nghiệm

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai đến năm 2010

2.1.1. Sơ lược tình hình kinh tế Đồng Nai

2.1.1.2. Nông - Lâm - Ngư nghiệp
2.1.1.3. Thương mại
2.1.1.6. Hợp tác đầu tư nước ngoài

2.1.2. Dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế đến năm 2010

2.1.2.1. Bối cảnh thế giới và khu vực Đông Nam Á
2.1.2.2. Bối cảnh kinh tế trong nước và trong tỉnh
2.1.2.3. Định hướng phát triển xuất khẩu, nhập khẩu

2.2. Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu

2.2.2. Kim ngạch nhập khẩu

2.2.3. Cơ cấu hàng xuất khẩu của tỉnh Đồng Nai

2.2.4. Cơ cấu hàng nhập khẩu của tỉnh Đồng Nai

2.2.5. Thị trường xuất khẩu của tỉnh Đồng Nai

2.2.6. Thị trường nhập khẩu của tỉnh Đồng Nai

2.3. Chiến lược tài chính hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua

2.3.1. Chiến lược huy động và sử dụng vốn đầu tư

2.3.1.1. Chiến lược huy động vốn
2.3.1.2. Sử dụng vốn đầu tư

2.3.2. Chính sách tài chính trong thời gian qua

2.3.2.1. Chính sách thuế
2.3.2.2. Chính sách tỷ giá hối đoái
2.3.2.3. Chính sách lãi suất

2.4. Những thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

3. CHƯƠNG III: CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2010 VÀ CÁC KIẾN NGHỊ THỰC HIỆN

3.1. Mục tiêu - quan điểm đề xuất chiến lược tài chính hỗ trợ phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010

3.1.1. Mục tiêu của chiến lược tài chính

3.1.2. Quan điểm đề xuất chiến lược tài chính

3.2. Chiến lược tài chính hỗ trợ phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

3.2.1. Chính sách khuyến khích về thuế

3.2.2. Chính sách ổn định tài chính, tiền tệ và kiểm soát lạm phát

3.2.3. Chiến lược huy động vốn

3.2.3.1. Chiến lược huy động vốn thông qua hệ thống ngân hàng
3.2.3.2. Chiến lược huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán

3.2.4. Chiến lược tài chính hỗ trợ xuất khẩu, nhập khẩu thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu

3.2.4.1. Quỹ hỗ trợ phát triển
3.2.4.2. Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, nhập khẩu

3.2.5. Chiến lược tăng cường tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp, tiến tới thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh

3.2.6. Bổ sung thêm hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, nhập khẩu và hình thức tự bảo hiểm

3.3. Kiến nghị khác

3.3.1. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

3.3.2. Đổi mới, hoàn thiện chính sách xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

3.3.2.1. Đổi mới, hoàn thiện chính sách xuất khẩu hàng hoá
3.3.2.2. Đổi mới, hoàn thiện chính sách nhập khẩu hàng hoá
3.3.2.3. Đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý và điều hành hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá

3.3.3. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh các hoạt động liên kết với các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

3.3.4. Phát triển nhanh nguồn nhân lực có chất lượng cao

Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Khái niệm và Nội dung Chiến lược Tài chính XNK

Chiến lược tài chính hỗ trợ xuất nhập khẩu là một trong những công cụ quan trọng nhất trong phát triển kinh tế hiện đại. Luận văn của Nguyễn Văn Sĩ tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã phân tích sâu sắc về chiến lược tài chính như một hệ thống các quyết định và chính sách nhằm hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp. Nội dung cơ bản của chiến lược tài chính XNK bao gồm các quyết định về phân phối vốn, quản lý dòng tiền, và tối ưu hóa lợi nhuận. Đối tượng chính của chiến lược này là các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, với mục đích giúp họ phát triển bền vững đến năm 2010 thông qua các công cụ tài chính hiệu quả.

1.1. Đối tượng và Mục đích của Chiến lược Tài chính

Chiến lược tài chính nhằm mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Các đối tượng chính bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mục đích chính là tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cải thiện hiệu quả kinh tế, và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển bền vững.

1.2. Nội dung Cơ bản của Chiến lược

Nội dung chiến lược tài chính hỗ trợ XNK bao gồm: huy động và sử dụng vốn đầu tư, chính sách thuế xuất nhập khẩu, quản lý tỷ giá hối đoái, điều chỉnh lãi suất ngân hàng, và thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển. Các quyết định phân phối tài chính được xây dựng dựa trên phân tích thị trường và bối cảnh kinh tế.

II. Thực trạng Hoạt động Xuất Nhập Khẩu tại Đồng Nai

Tỉnh Đồng Nai là một trong những trung tâm xuất nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam, với vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Luận văn đã khảo sát chi tiết kim ngạch xuất khẩukim ngạch nhập khẩu của tỉnh từ các năm trước đó. Hoạt động xuất khẩu của Đồng Nai tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp, nông-lâm-ngư nghiệp, với các mặt hàng chủ lực. Hoạt động nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô, máy móc thiết bị để phục vụ sản xuất trong nước. Bối cảnh kinh tế toàn cầuhội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội lớn cho phát triển xuất nhập khẩu, song cũng đặt ra nhiều thách thức về cạnh tranh.

2.1. Kim ngạch và Cơ cấu Xuất Khẩu

Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Đồng Nai đạt mức tăng trưởng ấn tượng qua các năm. Cơ cấu hàng xuất khẩu đa dạng, bao gồm các sản phẩm công nghiệp, nông sản chế biến, và các mặt hàng có giá trị gia tăng cao. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là các nước Châu Á, Mỹ, và Châu Âu, phản ánh định hướng phát triển của tỉnh hướng tới thị trường quốc tế rộng mở.

2.2. Kim ngạch và Cơ cấu Nhập Khẩu

Kim ngạch nhập khẩu của Đồng Nai phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước. Cơ cấu hàng nhập khẩu bao gồm nguyên liệu thô, máy móc, thiết bị công nghệ. Thị trường nhập khẩu chủ yếu từ các nước Châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, và các nước phát triển khác.

III. Chiến lược Tài chính Hỗ trợ Phát triển XNK đến 2010

Chiến lược tài chính hỗ trợ XNK của Đồng Nai đến năm 2010 được xây dựng dựa trên các mục tiêu chiến lược rõ ràng và quan điểm phát triển bền vững. Luận văn đề xuất các chính sách khuyến khích về thuế để tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chiến lược huy động vốn thông qua hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán được xem là yếu tố then chốt. Ngoài ra, chính sách ổn định tài chính, tiền tệ và kiểm soát lạm phát là điều kiện tiên quyết. Các quỹ hỗ trợ xuất khẩuquỹ hỗ trợ phát triển được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn ban đầu.

3.1. Chính sách Thuế và Huy động Vốn

Chính sách khuyến khích về thuế bao gồm giảm thuế suất, miễn thuế tạm thời cho các sản phẩm xuất khẩu chiến lược. Chiến lược huy động vốn thông qua hệ thống ngân hàngthị trường chứng khoán nhằm cung cấp nguồn tài chính dồi dào cho doanh nghiệp. Các công cụ tài chính như tín dụng ưu đãi, bảo lãnh được áp dụng để giảm chi phí vay vốn.

3.2. Quỹ Hỗ trợ và Bảo hiểm Tín dụng

Quỹ hỗ trợ phát triểnquỹ hỗ trợ xuất khẩu được thành lập để hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu giúp doanh nghiệp giảm rủi ro khi hoạt động trên thị trường quốc tế. Các hình thức tự bảo hiểm và bảo hiểm lẫn nhau cũng được khuyến khích để tăng cường tính chủ động của doanh nghiệp.

IV. Kiến nghị và Hướng phát triển Chiến lược XNK

Luận văn đề xuất một loạt kiến nghị thực hiện để hoàn thiện chiến lược tài chính hỗ trợ XNK. Trước tiên, cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi thông qua hoàn thiện các luật lệ về xuất nhập khẩu. Thứ hai, đổi mới chính sách nhập khẩu hàng hóa theo hướng mở cửa hợp lý và bảo vệ các ngành công nghiệp chiến lược. Thứ ba, cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế để hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu. Cuối cùng, phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao thông qua đào tạo và nâng cao kỹ năng. Các kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, các nước NIEs Châu Á, và ASEAN-4 cung cấp bài học quý báu cho Đồng Nai.

4.1. Cải thiện Pháp lý và Chính sách XNK

Cần đổi mới, hoàn thiện chính sách xuất khẩu hàng hóa để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Đổi mới, hoàn thiện chính sách nhập khẩu nhằm cân bằng giữa mở cửa và bảo vệ sản xuất trong nước. Cơ chế quản lý và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu cần được hiện đại hóa, từng bước loại bỏ các thủ tục cumbersome.

4.2. Hạ tầng và Nguồn Nhân lực

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như cảng biển, sân bay, kho bãi là nền tảng quan trọng. Phát triển nhanh nguồn nhân lực có chất lượng cao thông qua giáo dục, đào tạo chuyên nghiệp. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế giúp Đồng Nai trở thành trung tâm xuất nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Tài liệu luận văn chiến lược tài chính hỗ trợ phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phải tiết kiệm. Tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề rất cơ bản của mỗi quốc gia, cũng như của mỗi doanh nghiệp. Nhập khẩu thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại. Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và nhận chuyển giao công nghệ, kể cả thiết bị theo con đường đầu tư phải nắm vững phương châm đón đầu, đi thẳng vào tiếp thu công nghệ hiện đại.

Nhập khẩu phải hết sức chọn lọc, hết sức tránh nhập những loại công nghệ lạc hậu mà các nước đang tìm cách thải ra. Nhất thiết không vì mục tiêu rẻ mà nhập các thiết bị cũ về, chưa dùng được bao lâu, chưa đủ sinh lợi nhuận, đã phải thay thế. Đây không chỉ là bài học được rút ra qua một số năm gần đây, mà còn là kinh nghiệm của hầu hết các nước đang phát triển. Nhập khẩu bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng nhanh xuất khẩu.

Thế giới lâu nay và gần đây vẫn đầy ắp những kho tồn trữ hàng hóa và những nguyên nhiên liệu. Trong hoàn cảnh đó, việc nhập khẩu dễ hơn là tự sản xuất trong nước. Trong điều kiện sản xuất hiện tại của Việt Nam, giá hàng nhập khẩu thường rẻ hơn, phẩm chất tốt hơn. Nhưng nếu ỷ lại vào nhập khẩu sẽ không mở mang được sản xuất, thậm chí bóp chết sản xuất trong nước.

Vì vậy, cần tính toán và tranh thủ các lợi thế của nước ta trong từng thời kỳ để mở mang sản xuất vừa đáp khoa luan, document21 of 138. 21 22 tai lieu, luan van22 of 138. ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa về số lượng, vừa tạo ra được nguồn hàng xuất khẩu mở rộng thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, không nên bảo hộ sản xuất nội địa với bất cứ giá nào.

Các công cụ quản lý, điều hành nhập khẩu Công cụ quản lý điều hành nhập khẩu của các nước rất khác nhau. Có những nước đánh thuế cao đối với hàng nhập khẩu. Có những nước lại quản lý nhập khẩu qua quản lý ngoại tệ, qua các biện pháp phi thuế quan. Mục đích của các công cụ quản lý nhập khẩu là cản trở xuất khẩu của các nước khác vào lãnh thổ nước mình.

Vì vậy, các nhà nhập khẩu và xuất khẩu phải biết được những quy định cụ thể và đặc điểm của chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà nước mình và nước mà họ bán hàng. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà nhập khẩu, xuất khẩu. Những công cụ quản lý nhập khẩu rất nhiều, phức tạp và đa dạng. Nhưng tựu trung lại có hai nhóm công cụ (biện pháp) là thuế quan và phi thuế quan.2 Hoạt động xuất khẩu: Xuất khẩu đã được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho sự phát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách của một quốc gia. Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế: Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta.

Để công nghiệp hóa đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ…tuy quan trọng, nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kì sau này. Nguồn vốn khoa luan, document22 of 138. 22 23 tai lieu, luan van23 of 138.

quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ.

Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa.

Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động chờ ở sự “ thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp. Hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để sản xuất. Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất.

Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân. Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp.

Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta. Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển.

Chẳng hạn, khoa luan, document23 of 138. 23 24 tai lieu, luan van24 of 138. xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu. Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa đất nước.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH HỔ TRỢ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU: 1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản Kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, tuy bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nền kinh tế Nhật Bản vẫn đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc.

Nếu như năm 1948, GDP đầu người chỉ 380 USD, thì con số này năm 1987 là 12.750 USD và năm 1995 là 35000 USD. Thành công này của Nhật Bản có sự đóng góp quan trọng của các chiến lược tài chính giai đoạn này, cụ thể là việc phát triển các công cụ tài chính để nâng cao tỷ lệ tiết kiệm và phân bổ nguồn lực tài chính có hiệu quả. So với các nước phát triển khác, tỷ lệ tiết kiệm của Nhật Bản có cao hơn, những năm 1961 – 1967, tỷ lệ tiết kiệm trung bình của khu vực tư nhân là 18,6% tổng thu nhập cá nhân, trong khi đó ở Mỹ là 6,2 % , Anh là 7,7%. Đến những năm 1986 – 1989 tỷ lệ này tăng lên 20%.

Đạt được kết quả như vậy là nhờ chính phủ Nhật đã sử dụng hiệu quả các công cụ tín dụng Nhà nước để thu hút rộng rãi tiền nhàn rỗi của xã hội, đồng thời tiến hành thành lập các quỹ hỗ trợ để tài trợ vốn ưu đãi cho những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển. Tất cả đã phát huy tác dụng nhất định, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản cất cánh và tăng trưởng. Nền kinh tế Nhật Bản phát triển thành công hầu hết là nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu. Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu của Nhật Bản chia làm hai phần: 1) Về khả năng tổ chức của các công ty tư nhân, đó là sự tồn tại của các Tổng công ty thương mại được gọi là thương xá tổng hợp như Mitsui và Co, Mitsubishi Corporation.

Các tổng công ty thương mại có tính chất cơ bản như sau: Tính tổng hợp - kinh doanh nhiều ngành hàng, tính đa dạng - kinh doanh xuất nhập khẩu, bán buôn trong nước, bán buôn với các nước bên ngoài Nhật Bản, tính tổ chức - đóng vai trò tích cực trong việc cung cấp vốn, tín khoa luan, document24 of 138. 24 25 tai lieu, luan van25 of 138. dụng cho các doanh nghiệp nhỏ, giới thiệu công nghệ mới, tìm đối tác và đầu tư trực tiếp trong các liên doanh ở nước ngoài. Các thương xá tổng hợp này phát huy sức mạnh về thông tin, vốn và quản lý,… ở thị trường quốc tế với hệ thống các cứ điểm hoạt động ở nhiều nơi trên thế giới.

Sự tồn tại và lớn mạnh của các thương xá tổng hợp đã góp phần rất lớn vào việc đẩy mạnh xuất khẩu của Nhật Bản. 2) Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của Chính phủ. Trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu, vai trò của Chính phủ Nhật Bản rất to lớn. Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng chính sách ưu đãi cho các xí nghiệp xuất khẩu, lập ra ngân hàng xuất khẩu để hỗ trợ tín dụng cho các dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn, lập hội nghị tối cao bàn về xuất khẩu gồm đại diện Chính phủ và giới kinh doanh, lập chế độ kiểm tra hàng ; cuối cùng lập tổ chức chấn hưng mậu dịch (JETRO) để hỗ trợ về mặt thông tin và tiếp thị.

JETRO được thành lập năm 1958 với nhiều hoạt động phong phú hỗ trợ xuất nhập khẩu như đặt các cơ quan điều tra, nghiên cứu tại hầu hết các nước, theo dõi những thay đổi về chính sách thuế quan, về thị hiếu tiêu dùng, về tình hình cạnh tranh tại các nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ