Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về lý luận, thực tiễn tập đoàn kinh tế và tái cơ cấu tập đoàn kinh tế Milton Friedman (1962), “Độc quyền và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và người lao động” được in trong cuốn “Chủ nghĩa tư bản và tự do” [61]. Cuốn sách đã phân tích sâu sắc về cấu trúc độc quyền và cách thức chiếm lĩnh độc quyền của các tập đoàn lớn của Mỹ.
Công trình này cũng nhấn mạnh nguồn gốc độc quyền của các tập đoàn sinh ra từ quyền lực kinh tế và mối quan hệ với chính trị. Cùng bàn luận đến vấn đề độc quyền của các TĐKT còn có nghiên cứu của An sel M.Grimes với tiêu đề “Kinh tế học trong kinh doanh tập đoàn - Ai làm gì cho ai?” [91]. Nghiên cứu chỉ rõ sự chi phối của một số tập đoàn khổng lồ đối với hoạt động kinh tế quốc gia; sự thiếu hụt sản lượng được xem là cách thức hạn chế đầu ra nhằm tăng giá và mức giá của mỗi sản phẩm trong tập đoàn được ấn định dựa trên quyền lực độc quyền. Mặc dù đây là hai công trình nghiên cứu thiên về vấn đề độc quyền của các tập đoàn lớn ở Mỹ.
Tuy nhiên, những lập luận trong các công trình này đã giúp gợi mở cho nghiên cứu sinh suy nghĩ về vấn đề độc quyền và đặc quyền của các TĐKTNN ở Việt Nam hiện nay. Đây cũng là nội dung quan trọng trong tái cơ cấu ngành nghề và tái cơ cấu quản lý nhà nước đang được tiến hành đối với các TĐKTNN ở Việt Nam. Trong tác phẩm này, Janos đã phân tích rất chi tiết, có hệ thống về kinh tế các nước chuyển đổi, lấy kinh tế Hungary làm nội dung phân tích mà trọng tâm là vấn đề sở hữu và thể chế quản lý. Trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề cải cách sở hữu và cho rằng cải cách kinh tế ở Đông Âu, nhiều thập kỷ trước, đó là giữ các hình thức cũ của sở hữu nhà nước, chỉ thay đổi một số vấn đề trong các cơ 13 chế điều phối.
Việc làm này đã không đem lại kết quả như mong muốn. Cuối cùng, đã phải thừa nhận rằng cần đến một cải cách triệt để về quyền sở hữu trước khi nền kinh tế thị trường có thể hoạt động hiệu quả. Những luận giải của tác giả đã thu hút được sự chú ý của nghiên cứu sinh, bởi kinh tế Việt Nam cũng có những nét tương đồng so với các nước Đông Âu thời cải cách. Mặc dù cách thức, kết quả và phương thức tiến hành cải cách mà tác giả đưa ra còn nhiều điểm phải bàn luận.
Tuy nhiên, với phương pháp tư duy biện chứng, nghiên cứu sinh thấy rằng, những luận điểm tác giả đưa ra, nhất là về cải cách sở hữu có thể là những gợi ý tốt cho vấn đề tái cơ cấu sở hữu TĐKTNN mà nghiên cứu sinh đang quan tâm nghiên cứu. Trong công trình này, tác giả đã trình bày một cách toàn diện cả những vấn đề lý thuyết và thực tiễn quá trình tái lập ngân hàng với những ví dụ cụ thể và sinh động. Các phân tích được đưa ra trong bối cảnh quốc tế nhưng hoàn toàn có thể áp dụng vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Đặc biệt trong phần lý thuyết, Paul H.
Allen đã tập trung luận giải khái niệm, quy trình, nội dung của tái cơ cấu, khả năng thành công và thất bại của các doanh nghiệp khi tiến hành tái cơ cấu. Đây là những vấn đề cần được quan tâm, chú ý và nghiên cứu một cách thấu đáo để có thể vận dụng vào quá trình tái cơ cấu TĐKTNN ở Việt Nam. Cuốn sách phân tích nền kinh tế công nghiệp Hàn Quốc dưới thời Park Chung - Hee, Chun và Roh giai đoạn 1980 - 1992; Cải cách và tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc thời Kim Young - Soun; Sự khủng hoảng kinh tế thời kỳ 1997 - 1998 như: sụp đổ tập đoàn Daewoo, khủng hoảng của tập đoàn Huyndai, sự cải cách tài chính. Thông qua nghiên cứu cuốn sách này đã giúp cho nghiên cứu sinh có thêm hiểu biết về sự hình thành, phát triển, sự lớn mạnh của các TĐKT (chaebol) của Hàn Quốc; những thành công và thất bại trong việc tái cơ cấu các cheabol ở Hàn Quốc trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1997-1998 là những kinh nghiệm quý báu cho quá trình tái cơ cấu TĐKTNN ở Việt Nam.
14 Baoli XU và Minggao SHEN (2003), “Các tập đoàn doanh nghiệp của Trung Quốc: quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển” [121]. Trong công trình này, các tác giả đã trình bày một cách khá toàn diện về quá trình hình thành, phát triển đi đôi với cơ cấu lại các tập đoàn doanh nghiệp ở Trung Quốc. Điều đáng chú ý là các TĐKTNN ở Việt Nam cũng mang dáng dấp của các tập đoàn doanh nghiệp của Trung Quốc, bởi phần lớn các tập đoàn doanh nghiệp ở Trung Quốc, đặc biệt là các tập đoàn mạnh thuộc sở hữu nhà nước. Chính vì vậy, thông qua nghiên cứu công trình này giúp nghiên cứu sinh hiểu thêm về xu hướng phát triển các TĐKTNN ở Trung Quốc, về những trở ngại khi Chính phủ can thiệp quá sâu vào quá trình kinh doanh của các tập đoàn, về sự cần thiết phải tái cơ cấu các tập đoàn để phù hợp với cơ chế thị trường hiện đại.
Michael Hammer và James Champy (2004), “Tái lập công ty - tuyên ngôn của cuộc cách mạng trong kinh doanh” [63]. Michael Hammer và James Champy là hai nhà kinh tế nổi tiếng của Mỹ - Người tiên phong trong lĩnh vực “tái lập”. Trong nghiên cứu của mình, hai tác giả đã trình bày quan điểm mới về cách thức tổ chức quản lý một doanh nghiệp, công ty hiện đại nhằm thích nghi với môi trường mới của thế giới đang bước sang thế kỷ 21, dưới sự tác động của nền kỹ thuật tin học và cuộc cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt ở khắp mọi nơi. Trên cơ sở đúc kết những kinh nghiệm thực tế thành công cũng như thất bại của nhiều công ty tại Mỹ, các tác giả cuốn sách đã khái quát hóa, rút ra những nguyên tắc chung nhằm giúp cho các doanh nghiệp đang làm ăn kém hiệu quả tiến hành công cuộc tái lập nhằm khắc phục yếu kém vươn lên giành vị trí dẫn đầu trong từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình.
Cũng trong công trình này, các tác giả đã trình bày khá kỹ về khái niệm tái lập công ty. Theo tác giả, để công cuộc tái lập thành công cần phải xác định được những nguyên tắc chung trước khi tiến hành tái lập, điều này đã được kiểm chứng thông qua thực tiễn quá trình tái lập các công ty ở Mỹ. Valerij Panyushkin - Mikhail Sygar (2010), “Gazprom - vũ khí mới của nước Nga” [89]. Cuốn sách đã phác họa bức tranh tổng thể về các lĩnh vực 15 kinh doanh đa dạng của tập đoàn Gazprom.
Mỗi chương của cuốn sách xoay quanh một lĩnh vực - thường là rất quan trọng trong lịch sử của cơ quan năng lượng khổng lồ này, cung cấp nhiều thông tin bổ sung hoặc đưa ra những phản bác từ các nguồn và các nhân chứng đáng tin cậy khác. Cuốn sách đi từ phân tích một TĐKT cụ thể đến vấn đề chính trị, xã hội nước Nga, đi từ phân tích kinh tế để thấy chính trị ẩn sau đó và mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị ở một tập đoàn mà nhà nước nắm cổ phần chi phối. Cuốn sách này gợi cho nghiên cứu sinh suy nghĩ về xu hướng phát triển của TĐKTNN trên thế giới những năm tới, về chiến lược kinh doanh, vấn đề sở hữu và cách thức tổ chức quản lý đối với mô hình doanh nghiệp này. Frederick Nixson & Bernard Walters (2010), “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các tập đoàn nhà nước, DNNN và doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp” [88].
Trong nghiên cứu này, hai tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là những đánh giá về thực trạng DNNN, trong đó có các TĐKTNN. Theo hai tác giả, không có một lý do mang tính lý luận nào cho thấy các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước lại không thể có năng lực cạnh tranh như các doanh nghiệp tư nhân. Vấn đề nằm ở chỗ công tác quản lý yếu kém và sự dính líu của Nhà nước vào quá trình sản xuất của các DNNN, đặc biệt là các DNNN lớn; con đường để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN lớn không nhất thiết phải tư nhân hóa, mà có thể được thực hiện bằng nhiều giải pháp khác nhau. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, bước đi của tái cơ cấu cần thận trọng tránh rơi vào tình trạng tư hữu hóa ồ ạt như Liên Xô, Mông Cổ và một số nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu và Trung Âu.
Các công trình nghiên cứu về giải pháp tái cơ cấu tập đoàn kinh tế Trương Văn Bân (1996), “Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước” [11]. Cuốn sách là một công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện và sâu sắc về cải cách DNNN ở Trung Quốc. Điểm thu hút sự chú ý quan tâm của nghiên cứu sinh nhiều nhất chính là phần các tác giả luận giải về vấn đề 16 quản lý của các tập đoàn doanh nghiệp. Theo tác giả của cuốn sách: “Quản lý vi mô trong nội bộ tập đoàn thực chất là vấn đề làm thế nào để tăng được lực hướng tâm của các doanh nghiệp thành viên, nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn bộ tập đoàn” [8, tr.
Đây chính là yếu điểm đồng thời là một nội dung quan trọng trong tái cơ cấu TĐKTNN ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả đã khái quát về quá trình cải cách DNNN ở Trung Quốc trên rất nhiều vấn đề cả thành công và hạn chế. Trong đó, ba vấn đề được đề cập một cách sâu sắc trong chương trình cải cách là: (1) việc thực hiện quyền sở hữu DNNN trong quá trình cải cách; (2) những cải cách về mặt tổ chức quản lý của nhà nước đối với DNNN; (3) vấn đề quản lý doanh nghiệp. Những giải pháp được tác giả đưa ra để giải quyết ba vấn đề trọng tâm của cải cách được nêu ở trên có thể áp dụng được cho quá trình tái cơ cấu TĐKTNN ở Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu một cách thấu đáo, có tính đến những nét tương đồng và khác biệt về DNNN ở hai quốc gia.