phần mở đầu, phần nội dung và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 Chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng phát triển bền vững. Chƣơng 2: Thực trạng cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp. Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng phát triển bền vững tỉnh Đồng Tháp. Kết luận 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng phát triển bền vững. Khái niệm Tái cơ cấu kinh tế ngành nông. Tái cơ cấu là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một hệ thống, tổ chức, một đơn vị nào đó nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lƣợc và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trƣờng.
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp góp phần thực hiện chủ trƣơng tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trƣởng chung của cả nƣớc. Đây là một quá trình khó khăn và lâu dài, cần có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của toàn ngành nông nghiệp. Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình tổ chức sắp xếp lại tất cả các yếu tố liên quan tác động đến chuỗi giá trị ngành hàng nông nghiệp, từ quy hoạch, cơ sở hạ tầng sản xuất, chế biến, bảo quản, tổ chức sản xuất, chuỗi cung ứng dịch vụ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản, tiêu thụ Tái cơ cấu nông nghiệp đƣợc xem xét là một quá trình (từ Trung ƣơng là Chính phủ và các cấp địa phƣơng nhƣ cấp tỉnh…) thông qua ban hành hệ thống các chính sách (tài chính, tiền tệ, hành chính, kinh tế…) và sử dụng các công cụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình để tác động tới việc phân bổ sử dụng các nguồn lực sản xuất nông nghiệp cần thiết (đất đai, lao động và vốn…) nhằm sắp xếp cơ cấu kinh tế nông nghiệp (bao gồm các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản…) 7 theo một xu hƣớng nhất định, đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển. Không những thế, trên trƣờng quốc tế, lƣợng nông sản của Việt Nam xuất khẩu không ngừng trong đó nhiều mặt hàng nông, lâm, thủy sản đứng nhất, nhì trong tốp đầu của thế giới.
Nhƣng song song với thành quả nổi bật đó, đời sống nông dân- chủ thể của nông nghiệp - vẫn gặp rất nhiều khó khăn vì thu nhập thấp, bấp bênh, chất lƣợng sống của nông hộ cũng thấp. Bởi vì nông nghiệp Việt Nam tăng trƣởng thời gian qua đến chủ yếu từ khai thác tài nguyên, lạm dụng phân bón hóa học cho ra khối lƣợng sản phẩm lớn, nhƣng chất lƣợng sản phẩm thấp, giá rẻ, giá trị gia tăng không có. Tức là rất nhanh tăng trƣởng nhƣng không vững bền. Bởi lẽ, muốn đạt mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp việc cần làm là tái cơ cấu sao cho nông sản Việt Nam xuất khẩu có giá thành cao, xây dựng đƣợc thƣơng hiệu, có sức cạnh tranh mạnh so với các nƣớc khác; tránh tình trạng giá nông sản, thủy sản của nƣớc ta biến động thất thƣờng, xu hƣớng ngày càng giảm so với các nƣớc trong khu vực và thế giới, ảnh hƣởng đến thu nhập của ngƣời làm nông nghiệp.
Bên cạnh đó, tái cơ cấu nông nghiệp là làm sao để tăng vốn đầu tƣ toàn xã hội cho nông nghiệp, bao gồm cả đầu tƣ nhà nƣớc và đầu tƣ tƣ nhân, đầu tƣ nƣớc ngoài. Đồng thời, các ngành, các cấp từ Trung ƣơng đến địa phƣơng phải quy hoạch phát triển nông nghiệp trên địa bàn cả nƣớc, vùng lãnh thổ và tỉnh, huyện, xã cho phù hợp với đặc điểm từng vùng để phát huy lợi ích trƣớc mắt và lâu dài. Tái cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hƣớng phát triển bền vững. Phát triển bền vững đƣợc hiểu là một sự phát triển thỏa mãn 8 những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tƣơng lai.
Phát triển bền vững đƣợc cấu tạo bởi 3 nhân tố là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trƣờng. - Tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh trên cơ sở cơ cấu lại nội bộ ngành, cơ cấu lại lao động, áp dụng khoa học công nghệ với kết cấu hạ tầng đồng bộ; sản xuất gắn với tiêu thụ, trên cơ sở phát huy vai trò của kinh tế hợp tác, liên kết đa dạng. Mục đích cuối cùng là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cƣ dân nông thôn, phát triển kinh tế - xã hội bền vững. - Phát triển bền vững trong nông nghiệp là phát triển ngành nông nghiệp trong trạng thái phát triển ổn định tăng trƣởng cả về quy mô và tốc độ.
Hơn nữa, sự phát triển này đƣợc duy trì bởi các trạng thái cân bằng, trong đó xác lập mối quan hệ hài hòa giữa con ngƣời và tự nhiên. Ở đây, con ngƣời là một bộ phận của tự nhiên, hoạt động theo các quy luật của tự nhiên không chỉ khai thác tự nhiên mà còn hòa nhập vào tự nhiên, duy trì bồi bổ tự nhiên, ngăn ngừa những tai biến dẫn đến phá hoại tự nhiên. - Phát triển bền vững trong nông nghiệp về kinh tế: Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt đƣợc sự phát triển ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống của ngƣời dân, tránh đƣợc sự suy thoái và gánh nặng nợ nần cho thế hệ tƣơng lai. - Hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng cao, ngƣời nông dân phải có sự đầu tƣ năng suất lao động, năng suất ruộng đất và năng suất cây trồng, đảm bảo sản xuất ra một khối lƣợng hàng hóa lớn, đáp ứng đƣợc yêu cầu tiêu dùng.
9 - Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản xuất nông nghiệp gồm: gia tăng sản lƣợng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa, hàng hóa sản xuất ra đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng của ngƣời dân, chất lƣợng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trƣờng, trƣớc hết là đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm. - Tăng trƣởng là một yếu tố không thể thiếu trong phát triển bền vững nói chung, và phát triển bền vững trong nông nghiệp nói riêng. Có tăng trƣởng cao, ổn định mới giải quyết đƣợc các vấn đề của xã hội do dân số tăng, mức sống và nhu cầu tăng cùng các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội khác. - Sử dụng hiệu quả các nguồn lực lao động, vốn, lựa chọn hình thức sản xuất phù hợp để sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, tăng năng suất.
- Phát triển nông nghiệp bền vững về môi trƣờng: Là phải khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trƣờng, duy trì độ màu mỡ của đất, độ ô nhiễm của không khí, độ ô nhiễm của nguồn nƣớc và đảm bảo an toàn cho ngƣời sử dụng không dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật. - Phát triển bền vững trong nông nghiệp về xã hội: Phát triển bền vững về xã hội sẽ đảm bảo cuộc sống của ngƣời nông dân đạt kết quả ngày càng cao, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống gia đình, cải thiện chất lƣợng cuộc sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời nông dân. Điều đó thể hiện ở các yếu tố sau: 10 - Sử dụng hợp lý lao động, phát triển kinh tế nông nghiệp phải đi đôi với giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. - Phát triển kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo, đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân.
+ Quan tâm đến sự bền vững về môi trƣờng kinh tế - xã hội: Các quốc gia đi trƣớc đều chú trọng tới duy trì môi trƣờng kinh tế - xã hội bền vững ở nông thôn. Trƣớc hết, những quốc gia này tìm mọi cách để sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có của mỗi vùng. Bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế, phát triển bền vững còn biểu hiện ở đời sống tinh thần đƣợc nâng lên không ngừng về bảo đảm dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, bình đẳng cơ hội việc làm, bình đẳng về thu nhập hƣởng thụ cho mọi tầng lớp cƣ dân của các vùng lãnh thổ. + Quan tâm đến sự bền vững về môi trƣờng sinh thái: Phát triển bền vững về môi trƣờng là bảo đảm khai thác tài nguyên hợp lý, giảm thiểu lãng phí tài nguyên, cân bằng môi trƣờng, sinh thái.
Từ các nƣớc đang phát triển nhƣ: Thái Lan, Nhật Bản… vấn đề bảo vệ môi trƣờng sinh thái trở thành nghị sự của từng chính phủ. Mỗi chính phủ đều cam kết bằng những hành động cụ thể và chƣơng trình đầu tƣ lớn để làm việc này. Phát triển bền vững là quá trình phát triển cần sự kết hợp hợp lý, hài hòa, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với việc thực hiện tốt các vấn đề xã hội và môi trƣờng. Sự phát triển đó đòi hỏi phải đáp ứng đƣợc những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hƣởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai (WCED, 1987; United Nations, 2010).
Qua các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu rằng: “Tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững 1. Những nội dung chủ yếu của tái cơ cấu 11 - Thứ nhất, tái cơ cấu không gian sản xuất nông nghiệp Trên mỗi vùng của đất nƣớc, nông nghiệp có lợi thế và chức năng, vai trò kinh tế, xã hội, sinh thái môi trƣờng khác nhau. Do vậy, cần thiết có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với từng vùng.