MỞ ĐẦU Vi tảo (Microalgae) là những loại tảo có kích thước hiển vi. Chúng có vai trò rất quan trọng trong tự nhiên và trong đời sống của con người. Trong các thủy vực tảo cung cấp oxy và là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của thủy vực, cung cấp hầu hết thức ăn sơ cấp cho cá cũng như các động vật thủy hải sản khác. Nhiều loại tảo biển còn được khai thác để sản xuất thạch (agar), alginate, sản phẩm giàu iot, làm phân bón….
Nhiều tảo đơn bào được nuôi trồng công nghiệp để tạo ra những nguồn thức ăn cho ngành nuôi trồng thủy sản hay thực phẩm chức năng bổ dưỡng giàu protein, vitamin và khoáng dùng cho người. Tảo còn là nguyên liệu trong các ngành Y, Dược, mỹ phẩm, được sử dụng trong xử lý môi trường, làm phân bón, góp phần giảm nhẹ sự biến đổi khí hậu toàn cầu (sử dụng tảo để giảm thiểu hiệu ứng nhà kính) góp phần trong việc giải quyết vấn đề an ninh năng lượng (sản xuất nhiên liệu sinh học từ tảo)…. Tuy nhiên, ứng dụng phổ biến nhất của tảo là làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản và tách chiết những chất có hoạt tính sinh học có thể thương mại. Trong những sản phẩm từ tảo thì squalene có giá trị thương mại lớn do các ứng dụng đa dạng và giá thành cao.
Squalene được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp mỹ phẩm là chất làm mền và giữ ẩm cho da; trong lĩnh vực y tế và dược phẩm vì nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nó là một chất ức chế hiệu quả của ruột già, phổi, và tạo u da, diệt khuẩn và thuốc chống nấm và chức năng miễn dịch không đặc hiệu, và là tác nhân có thể giảm lượng cholesterol trong huyết thanh. Squalene thương mại lớn thường được tách chiết từ dầu gan cá mập biển sâu. Tuy nhiên sự quan tâm của quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã biển đang là mối đe dọa cho nguồn sản xuất squalene. Các nguồn thực vật và nấm men đang được nghiên cứu sản xuất squalene nhưng không được mong đợi vì những hạn chế của nó như: thực vật hàm lượng squalene thấp khoảng 1-61 mg/g, vì những ảnh hưởng thay đổi theo mùa và trong sản xuất cây trồng; nấm men nói chung hàm lượng squalene là rất thấp <0,43 mg/g.
Do đó, sự cấp thiết sản xuất squalene thương mại đang là sự quan tâm lớn của các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Việc tiềm kiếm các nguồn nguyên liệu mới thay thế nguồn truyền thống để tách chiết squalene Khoa công nghệ sinh học| Lớp: KS. 11-04 1 Khóa luận tốt nghiệp 2015 Lê Thị Thùy là rất cần thiết. Chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài “Tách chiết và tinh sạch squalene từ sinh khối của chủng vi tảo biển dị dƣỡng Schizochytrium sp.
PQ7” nhằm có được các số liệu khoa học về tách chiết và tinh sạch squalene trong điều kiện phòng thí nghiệm. Để đạt được mục tiêu nêu trên, một số nội dung nghiên cứu cần phải được tiến hành như sau: - Tách chiết được squalene từ sinh khối của chủng vi tảo biển dị dưỡng Schizochytrium sp. PQ7 trong điều kiện phòng thí nghiệm Việt Nam. - Tinh sạch squalene từ sinh khối tảo chủng PQ7.
Công việc thí nghiệm được tiến hành tại Phòng Công nghệ Tảo, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Khoa công nghệ sinh học| Lớp: KS. 11-04 2 Khóa luận tốt nghiệp 2015 Lê Thị Thùy CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về tảo và vi tảo 1.
Khái niệm về tảo và vi tảo Tảo (Algae) là những thực vật bậc thấp (thực vật có bào tử, cơ thể không phân chia thành thân, rễ, lá). Trong tế bào (TB) tảo có chứa diệp lục và chúng sống chủ yếu ở nước. Vi tảo (Microalgae) là tất cả các loại tảo có kích thức hiển vi tức là muốn quan sát được chúng thì phải sử dụng kính hiển vi. Trong số khoảng 40.000 loài tảo trên thế giới thì vi tảo chiếm khoảng 2/3.
Vai trò quan trọng của vi tảo thể hiện qua quá trình quang hợp hấp thụ CO2, cung cấp O2 cho các sinh vật khác trên trái đất, khép kín vòng tuần hoàn vật chất và làm tăng tốc độ quay vòng của các chu trình đó [5]. Tảo có mặt ở khắp nơi trên trái đất, từ đỉnh núi cao cho đến dưới đáy biển sâu. Những loài tảo sống trong các thuỷ vực được gọi là tảo phù du (phytoplankton) còn những tảo sống bám đáy thủy vực, bám trên các vật sống hay các thành tàu thuyền được gọi là tảo đáy (Phytobentos). Dạng tảo cộng sinh với nấm thành Địa y cũng là dạng phân bố rất rộng rãi và nhiều loài đã được khai thác dùng làm dược phẩm, nước hoa, phẩm nhuộm và các mục đích kinh tế khác [73].
Vài nét về đặc điểm sinh học của tảo Cơ thể tảo được gọi là tản (thallus) vì thiếu thân, rễ và lá nhưng chúng lại có chlorophyll a (sắc tố quang hợp điển hình). Hầu hết các loại tảo đều sống trong môi trường nước, từ nước ngọt đến nước mặn và nước lợ. Tảo có cấu trúc từ dạng đơn bào đến đa bào và tập đoàn. Nhìn chung tế bào tảo có một số đặc điểm cấu trúc tương tự như thực vật bậc cao: có vách TB cấu tạo từ cellulose, có lục lạp và chlorophyll [4].
Một số cấu trúc dạng tản của tảo mà chúng ta thường gặp là cấu trúc monat, cấu trúc palmella, cấu trúc hạt, cấu trúc tập đoàn, cấu trúc sợi, cấu trúc dạng bản và cấu trúc dạng ống (siphon), cấu trúc dạng cây [4]. Khoa công nghệ sinh học| Lớp: KS. 11-04 3 Khóa luận tốt nghiệp 2015 Lê Thị Thùy 1. Đặc điểm hình thái tảo Tảo có các hình dạng cấu trúc sau đây: - Cấu trúc Monad: Tảo đơn bào, sống đơn độc hay thành tập đoàn, chuyển động nhờ lông roi.
- Cấu trúc Pamella: Tảo đơn bào, không có lông roi, cùng sống chung trong bọc chất keo thành tập đoàn dạng khối có hình dạng nhất định hoặc không. Các tế bào trong tập đoàn không có liên hệ phụ thuộc nhau. - Cấu trúc Hạt: Tảo đơn bào, không có lông roi, sống đơn độc. - Cấu trúc Tập đoàn: Các tế bào sống thành tập đoàn và giữa các tế bào có liên hệ với nhau nhờ tiếp xúc trực tiếp hay thông qua các sợi sinh chất - Cấu trúc Sợi: Cấu tạo thành tản (thallus) đa bào do tế bào chỉ phân đôi theo cùng một mặt phẳng ngang, sợi có phân nhánh hoặc không.
- Cấu trúc Bản: Tản đa bào hình lá do tế bào sinh trưởng ở đỉnh hay ở gốc phân đôi theo các mặt phẳng cả ngang lẫn dọc. Bản cấu tạo bởi một hay nhiều lớp tế bào. - Cấu trúc Ống: Tản là một ống chứa nhiều nhân, có dạng sợi phân nhánh hay dạng cây có thân, lá và rễ giả (rhizoid). Các tế bào thông với nhau vì tuy phân chia nhưng không hình thành vách ngăn.
- Cấu trúc Cây: Tản dạng sợi hay dạng bản phân nhánh, hoặc có dạng thân- lá- rễ giả. Thường mang cơ quan sinh sản có mức độ phân hóa cao [75]. Đặc điểm cấu tạo Vách tế bào của tảo phần lớn được cấu tạo bởi cellulose và pectin, một vài loài tảo vách có thấm thêm sillic (như khuê tảo, tảo ánh vàng) hoặc cacbonat canxi (tảo vòng, tảo đỏ). Mỗi tế bào có một nhân hay đôi khi có nhiều nhân (ở tảo dạng Ống).
Trong nguyên sinh chất có những bản (thylakoids) chứa chất màu (diệp lục và các sắc tố khác) được gọi là thể màu. Thể màu có hình dạng khác nhau: hình bản, sao, dải, hình mạng lưới, đĩa, hạt … và ổn định với từng chi. Trong thể màu có những thể nhỏ gọi là hạch tạo bột, xung quanh có các hạt tinh bột lắng tụ (ở Tảo lục, Tảo vòng). Khoa công nghệ sinh học| Lớp: KS.
11-04 4 Khóa luận tốt nghiệp 2015 Lê Thị Thùy Những chất dự trữ khác là các hydratcacbon đặc biệt (lamiarin, amylodextrin….) ở trong hoặc ngoài thể màu. Nhiều tảo đơn bào còn có roi, số lượng có thể là 1, 2 hoặc nhiều. Các roi này xuất phát từ gốc ở phía trước của tế bào, có chứa chức năng vận chuyển. Roi có cấu tạo giống với roi của các sinh vật nhân thật.
Một số tảo còn có một chấm đỏ ở gốc roi gọi là điểm mắt - là cơ quan thụ cảm ánh sáng. Một số tảo đơn bào nước ngọt có không bào co bóp [74]. Tế bào của tảo có nhiều đặc điểm chung của các sinh vật nhân thật (Eukaryota hay eukarya): Thành tế bào của tảo cấu tạo bởi polysaccharide. Thành tế bào gồm các sợi cellulose liên kế thành bộ xương (skeleton) nhằm bào vệ duy trì hình dạng ổn định cho tế bào.
Một số tảo có mannan hay xylan thay thế cho cellulose. Ngoài ra còn có phần vô định hình tạo nên chất nền của thành tế bào. Bên ngoài thành tế bào ở một số tảo màng keo chứa các polysaccharide có giá trị thực tiễn như alginate, fucoidane, agar, carragenan, porphyrane, furcelleran, funoran… Ở nhiều loài tảo đơn bào có thành tế bào chỉ là chất nguyên sinh đậm đặc hay chu chất (periplast). Thành tế bào của tảo silic có cấu tạo bởi chất silic.
Một số tảo có lớp muối oxyd sắt calcium carbonat bên ngoài thành tế bào [6]. Tế bào của nhiều tảo vận động được là nhờ lông roi (flagella). Roi cấu tạo bởi 9 cặp vi ống bao quanh 2 vi ống ở giữa và được bao bọc bởi màng sinh chất. Hai vi ống giữa xuất phát từ đĩa gốc (dense plates) và thể gốc (basal body).
Màng sinh chất cũng giống như ở các sinh vật khác. Trong tế bào chất có nhiều bào quan khác nhau. Lục lạp (chloroplasmt) của tảo có cấu tạo như ở thực vật, gồm hai màng bao bọc, bên trong có chất nền (stroma) cùng với hệ thống các túi dẹp gọi là thylakoit xếp chồng lên nhau tạo thành loại cấu trúc giống như grana ở thực vật. Trên màng của thylakoit có nhiều chất diệp lục (chlorophyll) và các enzim tham gia vào quá trình quang hợp.
Ngoài chất diệp lục (a, b, c, d) còn có thể có các sắc tố carotenoit, phổ biến nhất là β-caroten. Nhiều tảo chứa sắc tố xanthophyll, phycobiliprotein.Trong chất nền của lục lạp còn có ADN dạng vòng và ribosom. Đôi khi lục lạp có một vùng đậm đặc protein liên kết với các sản phẩm Khoa công nghệ sinh học| Lớp: KS. 11-04 5 Khóa luận tốt nghiệp 2015 Lê Thị Thùy dự trữ tạo thành một cấu trúc gọi là nhân tinh bột hay nhân protein (pyranoit).
Lục lạp còn có chứa các giọt lipit nhỏ nằm giữa các thylakoit. Một số tảo còn có thêm một hai lớp mạng lưới nội chất lục lạp (CER- chloroplast endoplasmic reticulum).