Mở Đầu Chương II. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương III. Phương pháp nghiên cứu, mô hình và dữ liệu Chương IV. Kết quả nghiên cứu Chương V.
Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Ảnh hưởng của chuyển động tỷ giá lên xuất khẩu 2.1 Các nghiên cứu cơ bản về ảnh hưởng của chuyển động tỷ giá lên xuất khẩu Ảnh hưởng của chuyển động tỷ giá lên xuất khẩu thể hiện dưới hai hình thức là sự giảm giá hay tăng giá của đồng nội tệ tác động đến xuất khẩu và ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên xuất khẩu. Hai ảnh hưởng này đã được xem xét chú ý nhiều hơn khi hệ thống tỷ giá cố định bị sụp đổ vào đầu những năm 1970. Theo các lý thuyết kinh tế chuẩn, một sự giảm giá trong đồng nội tệ sẽ có tác động kích thích xuất khẩu.
Điều này được thể hiện trong nghiên cứu của Marshall - Lerner (Marshall - Lerner condition MLC). Với giả định cung và cầu hàng hóa có hệ số co giãn hoàn hảo và phương pháp tiếp cận hệ số co giãn, Marshall – Lerner đã tìm thấy rằng phá giá đồng nội tệ giúp cải thiện cán cân thương mại khi và chỉ khi tổng hệ số co giãn giá trị xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Tức là khi đồng nội tệ bị mất giá, giá hàng hóa xuất khẩu giảm khi tính bằng ngoại tệ và giá hàng nhập khẩu tăng nên nhu cầu đối với hàng xuất khẩu tăng lên, nhu cầu hàng nhập khẩu giảm xuống. Do vậy, cán cân thương mại được cải thiện.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Krugman và Dornsbusch (1976) chỉ ra rằng phá giá nội tệ cải thiện cán cân thương mại khi hiệu ứng khối lượng vượt trội so với hiệu ứng giá cả, tức là cần khoảng thời gian sau khi phá giá để nền kinh tế có phản ứng lại sau khi nội tệ mất giá, cho nên hiệu ứng tuyến J được hình thành. Hiệu ứng tuyến J được hiểu là, việc phá giá đồng nội tệ trong ngắn hạn sẽ khiến cán cân thương mại của quốc gia đó bị thâm hụt, nhưng sau đó, khi hệ số co giãn bắt đầu tăng, cán cân thương mại được cải thiện. Ngoài ra, nếu nhu cầu nhập khẩu của nước ngoài thấp thì việc giảm giá sẽ dẫn đến giảm doanh thu xuất khẩu. Điều này cũng có tác động không rõ ràng nếu như các mặt hàng sản xuất xuất khẩu có nguyên liệu đầu vào là nhập khẩu, khi đó TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 chi phí sản xuất các sản phẩm xuất khẩu gia tăng.
Trong suốt thời kỳ tăng giá, các nhà xuất khẩu có thể định lại giá bán, giảm giá bán bằng đồng nội tệ để duy trì xuất khẩu. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên xuất khẩu cũng thể hiện những quan điểm lẫn lộn tác động lên xuất khẩu. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về ảnh hưởng của biến động tỷ giá và xuất khẩu. Các lý thuyết kinh tế vĩ mô đưa ra các kết luận khác nhau về ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên xuất khẩu.
Trong mô hình thương mại đơn giản nhất, rủi ro tỷ giá cao được kỳ vọng gia tăng sự không chắc chắn trong lợi nhuận thu được bằng ngoại tệ và dẫn đến các nhà xuất khẩu e ngại rủi ro sẽ giảm nguồn cung xuất khẩu. Điều này được thể hiện trong các lý luận của Clark (1973) và Baron (1976B). Clark (1973) đã phát triển một mô hình với một doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu dưới điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, sản xuất một mặt hàng đồng nhất được bán hoàn toàn ở nước ngoài. Trong mô hình đơn giản nhất, doanh nghiệp không có đầu vào nhập khẩu và giá cả của hàng hoá xuất khẩu bằng đồng ngoại tệ là một biến ngoại sinh, doanh nghiệp được thanh toán bằng đồng ngoại tệ và việc phòng ngừa bị giới hạn, đầu ra là cố định.
Sự không chắc chắn về tỷ giá trong tương lai dẫn đến sự không chắc chắn của các hoá đơn xuất khẩu bằng đồng nội tệ. Do đó, doanh nghiệp phải quyết định một mức độ xuất khẩu thích hợp với sự không chắc chắn này. Việc tối đa thỏa dụng kỳ vọng được tính toán bằng một hàm bậc hai của lợi nhuận tính bằng đồng nội tệ (U(p) = ap + bp2). Với sự e ngại rủi ro (b<0), điều kiện tiên quyết là doanh thu biên vượt chi phí biên.
Doanh nghiệp phải được bù đắp cho các rủi ro tỷ giá mà nó phải đối mặt. Đường cung dịch chuyển sang trái và khối lượng sản xuất và thương mại bị giảm. Một công ty không thích rủi ro muốn giảm thiểu rủi ro bằng cách giảm doanh thu bán hàng. Điều này làm cho lợi nhuận kỳ vọng và biến động lợi nhuận giảm nhưng hữu dụng kỳ vọng tăng.
Baron (1976b) nới lỏng giả định về cạnh tranh hoàn hảo để phân tích sự ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên giá cả, nhấn mạnh vai trò của tiền tệ ghi trên hoá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khi nhà xuất khẩu phát hành hoá đơn bằng đồng ngoại tệ, họ phải đối mặt với rủi ro về giá cả. Lượng cầu và giá cả bằng đồng ngoại tệ là không thay đổi trong suốt thời hạn hiệu lực của hợp đồng nhưng doanh thu và lợi nhuận không chắc chắn. Khi hoá đơn được ghi bằng đồng nội tệ, nhà xuất khẩu đối mặt với rủi ro số lượng.
Lượng cầu không chắc chắn bởi vì giá cả đối với người mua không chắc chắn. Thêm vào đó doanh thu, chi phí của việc sản xuất trở nên không chắc chắn. Trong cả hai trường hợp, một doanh nghiệp e ngại rủi ro sẽ giảm nguy cơ rủi ro của biến động tỷ giá nhưng ảnh hưởng sẽ khác nhau: Đối với doanh nghiệp xuất hoá đơn bằng đồng ngoại tệ, một sự gia tăng trong rủi ro dẫn đến một sự gia tăng trong giá cả (đường cung dịch chuyển lên trên). Giá cả cao hơn làm giảm lợi nhuận kỳ vọng (cầu co dãn ở mức giá tối ưu) nhưng gia tăng hữu dụng kỳ vọng.
Nếu doanh nghiệp xuất hoá đơn bằng đồng nội tệ, phản ứng của nó sẽ phụ thuộc vào tính chất của hàm cầu trong thị trường mục tiêu. Nếu phương trình là tuyến tính, Barrons chỉ ra rằng giá bị sụt giảm. Giá giảm dẫn đến nhu cầu tăng lên, chi phí về giá biên giảm làm giảm sự kỳ vọng và biến thiên của lợi nhuận. Hooper and Kohlhagen (1978) cũng nghiên cứu sự ảnh hưởng của biến động tỷ giá song phương mà nguồn gốc duy nhất của sự không chắc chắn này là tỷ giá danh nghĩa.
Đầu tiên họ lấy hàm cung và cầu riêng lẻ cho các doanh nghiệp, sau đó tổng hợp chúng thành một phương trình dưới dạng giản đơn cho giá và sản lượng cân bằng thị trường. Các thông số quan trọng trong mô hình của họ là loại tiền tệ được chỉ định trên các hợp đồng, danh mục phòng ngừa rủi ro và mức độ e ngại rủi ro của các nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Một phần nhỏ của hợp đồng được định giá bằng đồng ngoại tệ và một phần nhỏ của các giao dịch được phòng ngừa trong thị trường giao sau. Các thông số này là biến ngoại sinh và xác định mức độ rủi ro.
Biến động của tỷ giá chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận không được phòng ngừa. Như vậy trong các mô hình thương mại quốc tế truyền thống, có mối quan hệ âm giữa biến động tỷ giá và khả năng cung ứng của các nhà xuất khẩu. Các nhà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 xuất khẩu e ngại rủi ro sẽ giảm lượng cung để đạt mức thỏa dụng tối ưu. Tuy nhiên, các mô hình này được giả định là sự sẵn sàng gia nhập thị trường quốc tế của một doanh nghiệp phụ thuộc vào lợi nhuận kỳ vọng của nó trong dài hạn và được mô phỏng trong một thị trường độc quyền.
Như Clack (1973) giả định tất cả đầu ra của các nhà xuất khẩu đều được tiêu thụ tại thị trường nước ngoài, doanh nghiệp lo ngại rủi ro và việc phòng ngừa rủi ro là không thể hoặc tốn kém, biến động tỷ giá là rủi ro duy nhất của doanh nghiệp. Do vậy, sự thay đổi trong tỷ giá không tạo ra bất kỳ cơ hội lợi nhuận nào cho doanh nghiệp. Với việc nới lỏng giả định của các mô hình truyền thống, De Grauwe (1988) đã xây dựng một mô hình mà một doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo có thể phân bổ sản phẩm sản xuất giữa thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Ảnh hưởng của một sự gia tăng trong biến động tỷ giá sẽ phụ thuộc vào độ lồi của hàm hữu dụng, ngược lại độ lồi này phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro của các doanh nghiệp.
Nếu các doanh nghiệp lo ngại rủi ro, một sự gia tăng trong rủi ro làm gia tăng hữu dụng biên kỳ vọng của doanh thu xuất khẩu và thúc đẩy họ gia tăng xuất khẩu. Rất nhiều các cá nhân không thích rủi ro lo lắng về kết quả có thể xấu nhất và do đó, khi mà rủi ro tăng lên họ có thể xuất khẩu nhiều hơn để tránh khả năng sụt giảm doanh thu mạnh mẽ. Như De Grauwe (1988, 67) đã nói “mặc dù các nhà xuất khẩu hầu như không thích với sự biến động của tỷ giá,… một vài trong số họ có thể quyết định rằng họ sẽ nhận được nhiều hơn nhờ gia tăng xuất khẩu”. Bên cạnh đó, với sự phát triển của các công cụ tài chính ngày nay, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các công cụ phòng ngừa trên thị trường giao sau.
Có thể ở các nước đang phát triển, thị trường giao sau chưa phát triển nhưng đối với các nước phát triển, trong ngắn hạn các doanh nghiệp hoàn toàn có thể phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhờ vào các hợp đồng kỳ hạn. Khả năng phòng ngừa rủi ro tỷ giá phụ thuộc vào đặc điểm của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn thường có khả năng đương đầu với rủi ro tỷ giá tốt hơn các doanh nghiệp nhỏ. Các doanh nghiệp thương mại thời gian đặt hàng và giao hàng ngắn, việc phòng ngừa rủi ro có thể đơn giản và ít tốn chi phí.
Tuy nhiên, với các doanh nghiệp sản xuất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 các hợp đồng cung cấp thường là dài hạn, việc phòng ngừa có thể khó khăn và tốn kém hơn. Một vài nghiên cứu đã kiểm định sự ảnh hưởng của thị trường giao sau với mối quan hệ giữa biến động tỷ giá và thương mại.