Đề tài: Tác động truyền thông Covid-19 của Chính phủ tới sinh viên Hà Nội

Nghiên cứu tác động truyền thông của Chính phủ trên mạng xã hội về Covid-19 tới sinh viên Hà Nội. Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quan hệ Công chúng và Quảng cáo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài tập nhóm cuối kỳ

2021

81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tác động truyền thông Covid 19 đến sinh viên Hà Nội

Đại dịch Covid-19 đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cuộc sống của sinh viên Hà Nội. Truyền thông chính phủ thông qua các nền tảng mạng xã hội như FacebookZalo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về phòng chống dịch bệnh. Sinh viên, là nhóm đối tượng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, cần nhận được những thông báo kịp thời và chính xác để bảo vệ sức khỏe của chính mình cũng như cộng đồng. Tác động truyền thông không chỉ liên quan đến việc nâng cao nhận thức mà còn ảnh hưởng đến hành vi phòng chống dịch của sinh viên. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của các kênh truyền thông chính phủ đến sinh viên trên địa bàn Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng thông tin Covid-19 trên mạng xã hội.

1.1. Khái niệm về truyền thông chính phủ và dịch bệnh

Truyền thông chính phủ là hoạt động cung cấp thông tin từ các cơ quan nhà nước đến người dân thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Trong bối cảnh Covid-19, truyền thông dịch bệnh trở thành công cụ quan trọng để hướng dẫn, cảnh báo và nâng cao nhận thức cộng đồng. Đối với sinh viên Hà Nội, những thông tin này được truyền đạt chủ yếu qua mạng xã hội như Trang thông tin Chính Phủ trên Facebook và ứng dụng Zalo của Bộ Y Tế, tạo thành một hệ thống truyền thông đa chiều hiện đại.

1.2. Vai trò mạng xã hội trong truyền thông Covid 19

Mạng xã hội là nền tảng lý tưởng để truyền thông chính phủ về Covid-19 với sinh viên, vì mục tiêu này sử dụng mạng xã hội hàng ngày. FacebookZalo cho phép truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, tiếp cận được nhiều người, và tương tác hai chiều. Thông qua các kênh này, chính phủ có thể cập nhật tình hình dịch bệnh, hướng dẫn biện pháp phòng chống và trả lời thắc mắc của sinh viên một cách kịp thời, góp phần nâng cao tác động truyền thônghiệu quả phòng chống dịch.

II. Thực trạng truyền thông về Covid 19 trên các nền tảng mạng xã hội

Truyền thông của chính phủ về Covid-19 trên mạng xã hội tại Hà Nội thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Trang thông tin Chính Phủ trên Facebook thường xuyên đăng tải các bài viết về tình hình dịch bệnh, số ca nhiễm, tỉ lệ tiêm chủnghướng dẫn phòng chống. Bộ Y Tế sử dụng Zalo để gửi những thông báo khẩn cấp và tư vấn y tế. Tuy nhiên, thực trạng truyền thông cho thấy một số vấn đề trong việc tiếp cận sinh viên, như tính cập nhật, ngôn ngữtính hấp dẫn của nội dung. Sinh viên Hà Nội nhận được thông tin nhưng mức độ tương táchiểu biết vẫn cần được cải thiện thông qua tối ưu hóa chiến lược truyền thông.

2.1. Nội dung truyền thông trên Trang thông tin Chính Phủ

Trang thông tin Chính Phủ trên Facebook cung cấp thông tin Covid-19 thông qua các bài đăng định kỳ về số ca nhiễm mới, biện pháp phòng chốngchính sách liên quan. Nội dung bao gồm video hướng dẫn, infographicbài viết chi tiết. Tuy nhiên, sinh viên thường phản ánh rằng thông tin đôi khi quá dài, phức tạpít hấp dẫn trực quan. Để tăng tác động truyền thông, cần cải thiện cách trình bày sao cho phù hợp với đặc điểm tiêu thụ thông tin của thế hệ sinh viên, đặc biệt là thiết kế hình ảnh hấp dẫn.

2.2. Chiến lược truyền thông trên Zalo của Bộ Y Tế

Ứng dụng Zalo của Bộ Y Tế được sử dụng để gửi thông báo cấp bách về Covid-19 trực tiếp tới sinh viên. Chiến lược truyền thông này nhấn mạnh tính kịp thờitính chính xác của thông tin. Thông điệp được gửi ngắn gọn, dễ hiểu và thường kèm theo hướng dẫn cụ thể. Zalo cũng cho phép tương tác trực tiếp để sinh viên có thể đặt câu hỏi. Tuy nhiên, tác động thực tế vẫn phụ thuộc vào việc sinh viên có đọc, chia sẻ và thực hiện hành động theo khuyến nghị hay không.

III. Tác động và đánh giá hiệu quả truyền thông đến sinh viên

Tác động truyền thông về Covid-19 đến sinh viên Hà Nội được đánh giá qua nhiều khía cạnh. Một mặt, sinh viên nhận được những thông tin quan trọng về dịch bệnh giúp nâng cao nhận thức phòng chống. Mặt khác, hiệu quả truyền thông còn bị hạn chế do nhiều yếu tố như thông tin quá nhiều gây quá tải thông tin, thiếu sự tương tác hai chiềukhoảng cách giữa thông tin lý thuyết và thực tiễn. Đánh giá từ sinh viên cho thấy nhu cầu cải thiện nội dung, tăng tính hấp dẫntạo cơ hội tương tác để tăng cường tác động truyền thôngkhuyến khích hành động phòng chống dịch.

3.1. Ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi phòng chống dịch

Truyền thông của chính phủtác động tích cực đến nhận thức sinh viên về Covid-19, giúp các em hiểu rõ hơn về nguy hiểm của dịch bệnhbiện pháp phòng chống. Sinh viên Hà Nội thường xuyên tiếp nhận thông tin về tiêm chủng, vệ sinhcách ly. Tuy nhiên, tác động đến hành vi thực tế chưa luôn đạt mong đợi - không phải tất cả sinh viên đều thực hiện khuyến nghị một cách nhất quán. Khoảng cách giữa kiến thức và hành động cần được giải quyết thông qua truyền thông hiệu quả hơn.

3.2. Những hạn chế trong truyền thông hiện tại

Truyền thông hiện tại về Covid-19 tồn tại nhiều hạn chế như thông tin không cập nhật kịp thời, nội dung không đa dạng để phù hợp với các nhóm sinh viên khác nhau, và **thiếu sự tương tác. Sinh viên Hà Nội cảm thấy quá tải bởi lượng thông tin lớn mỗi ngày. Ngôn ngữ của một số thông báo còn quá chính thức, khó tiếp cận. Bên cạnh đó, chất lượngđộ tin cậy của nguồn thông tin từ mạng xã hội đôi khi gây nghi ngờ.

IV. Giải pháp nâng cao tác động truyền thông Covid 19 cho sinh viên

Để nâng cao tác động truyền thông về Covid-19 đến sinh viên Hà Nội, cần áp dụng những giải pháp toàn diện. Thứ nhất, cải thiện nội dung bằng cách sử dụng ngôn ngữ đơn giản, hình ảnh hấp dẫnvideo ngắn. Thứ hai, tăng cường tương tác thông qua câu hỏi, bình luậnthảo luận trực tiếp. Thứ ba, kết nối với các tổ chức sinh viên để phân phối thông tin hiệu quả hơn. Thứ tư, đánh giá định kỳ về tác động thực tế của truyền thôngđiều chỉnh chiến lược. Chính phủ cần lắng nghe ý kiến sinh viên để tối ưu hóa chiến lược truyền thông Covid-19tăng cường hiệu quả phòng chống dịch bệnh.

4.1. Đổi mới hình thức và nội dung truyền thông

Đổi mới hình thức truyền thông bằng cách sử dụng đa phương tiện, bao gồm video ngắn, podcast, infographicmeme thông tin phù hợp với thế hệ sinh viên. Nội dung cần được đơn giản hóa, tránh thuật ngữ phức tạptập trung vào thông tin thiết thực. Chính phủ nên tạo nội dung riêng cho sinh viên, đề cập đến những vấn đề cụ thể như học tập online, sức khỏe tâm lý trong đại dịch.

4.2. Tăng cường kênh tương tác và phản hồi từ sinh viên

Tương tác hai chiềuchìa khóa để nâng cao tác động truyền thông. Trang thông tin Chính PhủBộ Y Tế nên khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi, chia sẻ kinh nghiệmphản hồi về thông tin. Tổ chức các cuộc tọa đàm online, live chat với chuyên gia y tế để giải đáp thắc mắc. Lắng nghe và phản hồi các ý kiến của sinh viên giúp cải thiện chất lượng truyền thôngtăng sự tin tưởng vào thông tin chính phủ.

18/12/2025
Đề tài tác động truyền thông của chính phủ trên mạng xã hội về covid 19 tới sinh viên trên địa bàn hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động truyền thông Mạng xã hội của Chính Phủ về Covid 19 tới sinh viên trên địa bàn Hà Nội 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm truyền thông. Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội. Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung.

Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận. Do đó, hiện tượng này có rất nhiều quan điểm và định nghĩa như: Truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác, và làm cho người khác hiểu được chúng ta (Martin P. Andersen 1959 trích theo Frank Dance 1970).

Truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời (John R. Truyền thông là quá trình liên tục nhằm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn (Dean C. Truyền thông là một quá trình mà qua đó quyền lực được thể hiện và tính độc quyền tăng lên. Trong cuốn “Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do PGS.TS Nguyễn Văn Dũng chủ biên có đưa ra khái niệm đúng với bản chất và mục đích của truyền thông đó là: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hay nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, cộng đồng và xã hội”.

Truyền thông ra đời và phát triển do nhu cầu khách quan của xã hội về thông tin giao tiếp của loài người, do trình độ và điều kiện KT-XH cũng như sự phát triển của khoa học kỹ thuật.2 Khái niệm mạng xã hội. Mạng xã hội (social network) là một hệ điều hành web kết nối các thành viên trên Internet với nhau với nhiều mục đích khác nhau mà không phân biệt địa lý và thời gian. Thế giới hiện nay phát triển hàng trăm mạng xã hội khác nhau với sự tham gia của hàng trăm triệu thành viên trên thế giới. Những trang mạng xã hội ảo dần trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với phần lớn các cư dân mạng bởi những tính năng kết nối cộng đồng một cách hoàn hảo.

Chúng ta không thể bỏ qua những hãng nổi tiếng và thành công nhất như Facebook, Instagram, Tiktok, Youtube, Twitter, Skype, Zalo,… Trong đó, Zalo và Facebook là hai trang mạng xã hội thống lĩnh tại thị trường Việt Nam. Truyền thông mạng xã hội (Social Media) là công nghệ dựa trên máy tính tạo điều kiện cho việc chia sẻ ý tưởng, suy nghĩ và thông tin thông qua việc xây dựng các mạng và cộng đồng ảo. Truyền thông mạng xã hội được thiết kế dựa trên nền tảng internet và cung cấp dịch vụ giao tiếp điện tử cho người dùng. Nội dung bao gồm thông tin cá nhân, tài liệu, video và hình ảnh.

Người dùng tham gia truyền thông mạng xã hội thông qua máy tính, máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh thông qua phần mềm trên web hoặc ứng dụng web. Truyền thông mạng xã hội ban đầu là phương tiện để tương tác với bạn bè và gia đình nhưng sau đó được các doanh nghiệp chấp nhận tận dụng như một phương thức truyền thông mới và phổ biến để tiếp cận với khách hàng. Sức mạnh của truyền thông mạng xã hội là khả năng kết nối và chia sẻ thông tin với bất kỳ ai trên thế giới hoặc cùng lúc với nhiều người. Trên thế giới, có hơn 3 tỷ người dùng truyền thông mạng xã hội.

Nó là một nền tảng web luôn thay đổi và không ngừng phát triển. Truyền thông mạng xã hội có rất nhiều dạng hoạt động được hỗ trợ bởi công nghệ. Các hoạt động này bao gồm chia sẻ hình ảnh, blog, trò chơi trực tuyến, mạng xã hội, chia sẻ video, mạng doanh nghiệp, thế giới ảo, viết bài phê bình đánh giá (review), v. Kể cả các cơ quan nhà nước và các chính trị gia cũng tận dụng truyền thông mạng xã hội để tiếp cận với dân chúng và cử tri.

Đối với cá nhân, truyền thông mạng xã hội được sử dụng để kết nối người đó với gia đình và bạn bè. Một số người sẽ sử dụng nhiều phương tiện truyền thông mạng xã hội khác nhau để kết nối cơ hội nghề nghiệp, tìm người có cùng sở thích, cảm nhận, hiểu thấu và cảm xúc. Những người này tham gia vào các hoạt động này là một phần của mạng xã hội ảo.3 Hiệu quả truyền thông. Theo cuốn “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” do Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang chủ biên, hiệu quả của truyền thông có thể hiểu là: “việc vận dụng các quy luật, các quy tắc, hình thức, phương thức hoạt động truyền thông giúp cho nó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đạt mục đích”.

Hoạt động của hệ thống truyền thông luôn chịu sự tác động từ hai phía. Phía thứ nhất là các thiết chế xã hội mà các phương tiện truyền thông là công cụ, phía thứ hai là công chúng mục tiêu. Mối quan hệ giữa công chúng và chủ thể truyền thông là mối quan hệ chặt chẽ và hai chiều. Một mặt, các phương tiện truyền thông thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của công chúng.

Mặt khác, công chúng lại đặt yêu cầu mới đối với hoạt động của các chủ thể truyền thông. Sự hình thành mối quan hệ này thể hiện tính tích cực chính trị - xã hội của bản thân hệ thống truyền thông và công chúng. Hiệu quả truyền thông phụ thuộc chặt chẽ vào mối quan hệ đó. Trong bài nghiên cứu này, nhóm nhận định hiệu quả truyền thông là bất kì sự thay đổi nào đó trong nhận thức, tình cảm, hành vi của công chúng so với trước khi có hoạt động truyền thông.

Hiệu quả truyền thông cao tức là công chúng phải chú ý đến thông tin, hiểu biết về thông tin, đồng tình với chủ thể truyền thông và hành động theo lời kêu gọi từ thông điệp.4 Truyền thông chính phủ. Chính sách, hay còn gọi là chính sách công là vấn đề quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như với từng địa phương cụ thể. Chính sách công được định nghĩa là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Theo bài báo “The Government Communication Decision Wheel: Toward a Public Relations Model for the Public Sector” thuộc chương 19 của “Journal of Public Relations Research”, Truyền thông chính phủ, hay truyền thông chính sách được hiểu là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin bằng một hệ thống ký hiệu, quy ước nhằm tạo sự liên kết để thay đổi nhận thức và hành vi về chính sách.

Mục tiêu cốt lõi của truyền thông chính sách là thu hút người dân và những bên liên quan tham gia vào các chu trình chính sách. Truyền thông chính sách là kênh bày tỏ sáng kiến chính sách cũng như chính nó cũng áp dụng cho các công cụ quản lý truyền thông. Chương 35 của European Journal of Marketing “Public policy marketing exchange in the public sector” chỉ ra, trong lịch sử, truyền thông chính sách chủ yếu được sử dụng để đạt được các mục tiêu chính trị. Trước khi nền dân chủ xuất hiện, truyền thông chính sách chỉ có ý nghĩa tuyên truyền các vấn đề quân sự, đối ngoại và có chức năng thúc đẩy các công dân ngoan ngoãn.

Với sự ra đời của nền dân chủ, truyền thông chính sách thực hiện chức năng thông báo và gây ảnh hưởng, nhằm đảm bảo công dân biết quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, xã hội. Nhiệm vụ chính của truyền thông chính sách lúc này là định hướng và nâng cao nhận thức của công chúng và thông tin tuyên truyền về mọi hoạt động điều hành xã hội của nhà nước phù hợp với lợi ích người dân. Truyền thông chính sách là một phần hành động của chính phủ để thực hiện một chính sách cụ thể; giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin đến người dân để thuyết phục họ thay đổi nhận thức và hành động đúng pháp luật, cùng tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng chính sách. Theo CDC Việt Nam, COVID-19 là một căn bệnh nguy hiểm gây ra bởi một chủng vi-rút được phát hiện vào tháng 12 năm 2019 tại Vũ Hán, Trung Quốc.

Chủng vi-rút này rất dễ gây truyền nhiễm và nhanh chóng lây lan ra khắp thế giới. COVID-19 thường gây ra các triệu chứng hô hấp giống như cảm lạnh, cúm hoặc, viêm phổi, nhưng COVID-19 còn có thể gây hại tới các bộ phận khác trên cơ thể. Về tên gọi, vào ngày 11 tháng 2 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới đã công bố tên gọi chính thức cho căn bệnh: bệnh vi-rút corona 2019, tên viết tắt là COVID-19. 'CO' là viết tắt của 'corona', 'VI' là 'vi-rút', và 'D' là bệnh.

Chủng vi- rút gây bệnh COVID-19, SARS-CoV-2 là vi-rút corona. Từ corona có nghĩa là vương miện và liên quan đến hình dáng mà vi-rút corona có được do các protein hình gai nhọn nhô ra từ chúng. Cũng theo CDC, hầu hết mọi người mắc bệnh COVID-19 đều có các triệu chứng nhẹ, nhưng một số người có thể bị bệnh nặng. Mặc dù hầu hết những người mắc COVID-19 trở nên khỏe hơn chỉ trong vòng vài tuần kể từ khi nhiễm bệnh, một vài người lại gặp phải các tình trạng hậu COVID.

Các tình trạng sau khi mắc COVID bao gồm rất nhiều vấn đề sức khỏe mới xuất hiện, xuất hiện trở lại hoặc tiếp diễn mà mọi người có thể gặp phải trong hơn bốn tuần sau khi họ bị nhiễm vi-rút gây ra bệnh COVID-19 lần đầu. Những người nhiều tuổi hơn và những người mắc một số bệnh nền nhất định có khả năng mắc bệnh nặng cao hơn do COVID-19. Vắc-xin ngừa COVID-19 là an toàn và có hiệu quả. Các hình thức truyền thông của Chính phủ trong thời kỳ Covid-19 Các hình thức truyền thông chính phủ: Mạng xã hội: trong thời gian đại dịch, mạng xã hội được xem là “cây cầu” kết nối giữa mọi người, đặc biệt khi các tỉnh, thành đang triển khai lệnh phong tỏa theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ